Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST

Ngày 11-7 - 2024

V/v: “Ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Biền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trọng Đại

Ông Nguyễn Văn Quang

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Bích Huyên - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1988;

Đăng ký hộ khẩu: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Hiện đang cư trú tại Nhật Bản.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1982;

Nơi cư trú: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Chị Phạm Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Vũ Văn T vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, B tự khai nguyên đơn là chị Phạm Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 18 tháng 10 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tháng 02/2019 chị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân, không còn tình cảm với nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng chị có hai con chung là cháu Vũ Thị Kiều O, sinh ngày 20/10/2008, cháu Vũ Hoàng A, sinh ngày 18/02/2013. Hiện nay cháu Vũ Thị Kiều O đang ở với ông bà ngoại là ông Phạm Văn Q và bà Hoàng Thị G. Cháu Vũ Hoàng A đang ở với bố là anh Vũ Văn T. Chị đề nghị chị xin nuôi cháu O, anh T nuôi cháu Hoàng A, chị nhờ ông Q, bà G nuôi cháu O thay chị. Hàng tháng chị cấp dưỡng nuôi cháu Hoàng A là 3.000.000đ. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu O.

Về tài sản và công nợ chung: Vợ chồng chị không có và không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết

Anh Vũ Văn T đã được Toà án triệu tập, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có mặt tại Toà án để làm việc, nên không có quan điểm trình bày về việc giải quyết vụ án.

* Cháu Vũ Thị Kiều O, cháu Vũ Hoàng A đều có đơn trình bày: Cháu O có nguyện vọng xin ở với mẹ, cháu Hoàng A xin ở với bố.

Bà Hoàng Thị G có đơn xin nhận nuôi cháu O khi chị L làm việc tại nước ngoài.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 58, 81,82,83 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Vũ Văn T. Về con chung: Giao cháu Vũ Thị Kiều O, sinh ngày 20/10/2008 cho chị Phạm Thị L nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục. Trong thời gian chị L ở nước ngoài giao bà G nuôi cháu O theo đề nghị của chị L và bà G. Giao cháu Vũ Hoàng A, sinh ngày 18/02/2013 cho anh Vũ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chấp nhận sự tự nguyện của chị L hàng tháng chị cấp dưỡng nuôi cháu Hoàng A là 3.000.000đ. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu O. Về án phí đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L. Anh Vũ Văn T đã được tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy Toà án xét xử vắng mặt anh theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Chị Phạm Thị L và anh Vũ Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 18 tháng 10 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Hôn nhân của anh chị là hôn nhân tiến bộ, hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tháng 02/2019 chị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Văn T. Xét mâu thuẫn của anh chị kéo dài ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại, nên xử cho anh chị ly hôn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về con chung: Anh Vũ Văn T không có quan điểm tại Toà án, chị Phạm Thị L đề nghị giao cháu Vũ Thị Kiều O, sinh ngày 20/10/2008 cho chị Phạm Thị L nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục. Trong thời gian chị L ở nước ngoài giao bà G nuôi cháu O. Giao cháu Vũ Hoàng A, sinh ngày 18/02/2013 cho anh Vũ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị tự nguyện hàng tháng cấp dưỡng nuôi cháu Hoàng A là 3.000.000đ. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu O. Bà G đề nghị xin được nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục cháu O trong thời gian chị L ở nước ngoài. Xét đề nghị của chị Phạm Thị L là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của chị L hàng tháng cấp dưỡng nuôi cháu Hoàng A là 3.000.000đ đến khi cháu trưởng thành.

[4] Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị L phải nộp theo quy định của pháp luật. Về án phí cấp dưỡng nuôi con chị L không phải nộp vì việc cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của chị L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Vũ Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Vũ Thị Kiều O, sinh ngày 20/10/2008 cho chị Phạm Thị L nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục. Trong thời gian chị L ở nước ngoài giao bà G nuôi cháu O theo đề nghị của chị L và bà G. Giao cháu Vũ Hoàng A, sinh ngày 18/02/2013 cho anh Vũ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chấp nhận sự tự nguyện của chị L hàng tháng chị cấp dưỡng nuôi cháu Hoàng A là 3.000.000đ (ba triệu đồng), kể từ tháng 7 năm 2024 đến khi cháu Hoàng A trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu O.

Chị L, anh T có quyền chăm sóc, thăm nom con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của các bên đương sự.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Chị Phạm Thị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ tại Biên lai số 0005692 ngày 09/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định, chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị L, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, anh tiếp được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Cục THADS tỉnh Nam Định;
  • - UBND xã Nghĩa Phú;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Biền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger