Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HS-PT

Ngày: 11-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan

Các Thẩm phán: Ông Trần Phước Hiệu, ông Lê Minh Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 5năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của bị cáo và của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1978 tại Thái Nguyên;Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1955; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ Lê Thị T1, sinh năm 1982, có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2021.Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Bị hại có kháng cáo: Lê Văn T2, sinh 1993. Nơi cư trú: Tổ G, thôn C, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại:

  • Bà Lê Đông Yến P - Luật sư - Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt.
  • Bà Nguyễn Trúc A - Luật sư - Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt.

Người làm chứng:Trương Hoàng T3, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Tổ I, thôn C, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Lê Thị T1, sinh năm 1982. Nơi cư trú:

2

Tổ G, thôn C, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; Phạm Thị T4, sinh năm 1960. Nơi cư trú: Tổ G, thôn C, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 31/7/2023, Lê Văn T2 và Trương Hoàng T3 đi 02 xe mô tô đến nhà Nguyễn Văn T tại thôn C, xã N để nói chuyện liên quan đến mâu thuẫn trước đó với Lê Thị T1 (vợ của Nguyễn Văn T). Khi vào nhà Lê Văn T2 ngồi trên giường, Trương Hoàng T3 đứng ở cửa lên xuống nhà bếp. Tại khu vực nhà bếp, Nguyễn Văn T và Lê Thị T1 đang ngồi dưới nền nhà làm bánh tráng trộn, Phạm Thị T4 (mẹ của Lê Thị T1) ngồi trên giường. Trong lúc nói chuyện, giữa Lê Văn T2 và Lê Thị T1 xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, chửi nhau. Lê Thị T1 lấy 01 con dao chặt xương hù dọa Thịnh, sau đó bỏ xuống gầm giường. Bà Phạm Thị T4 bỏ về. Lê Văn T2 bước xuống giường, đi đến dùng chân đạp vào người làm T ngã ra nền nhà. T chồm dậy, cầm cây kéo dùng để cắt bánh tráng đâm T2 01 cái trúng vào nách trái, T2 bỏ chạy, T đuổi theo nhưng được Trương Hoàng T3 can ngăn. T2 được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đ, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đ1, tỉnh Đồng Nai điều trị.

Vật chứng thu giữ: 01 cây kéo bằng kim loại dài 23cm, tay cầm bọc nhựa màu đen, mũi nhọn.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 633/KLTTCT - TTPYBT ngày 12/10/2023, của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Lê Văn T2 và Thông báo số 94/TTGĐYKPY ngày 01/3/2024 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh B về việc đính chính kết luận tổn thương cơ thể số 633/KLTTCT - TTPYBT của Lê Văn T2, kết luận như sau:

  • Vết thương - chấn thương đường nách giữa bên trái thấu ngực khoảng liên sườn 5- 6 bên trái, tràn dịch màng phổi trái, tràn dịch màng tim, gãy xương sườn VI bên trái đã được phẫu thuật điều trị, hiện đông đặc thùy dưới phổi trái, còn tràn dịch màng phổi trái, gãy cung trước xương sườn VI trái, để lại sẹo vết thương kích thước (3,1 x 1)cm, sẹo vết mổ dẫn lưu kích thước (4,2 x 0,4)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 15%+ 3% +2%+2%.
  • Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Văn T2 tại thời điểm giám định ngày 06/10/2023 là 21% (Hai mươi mốt phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
  • Kết luận khác: Vết thương do vật sắc nhọn gây ra; vết thương có chiều hướng lực tác động từ trái qua phải.

Tại Cơ quan điều tra: Bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.Lê Văn T2 yêu cầu bị cáo bồi thường số

3

tiền 293.818.217 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh đã quyết định:

Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho bị hại Lê Văn T2 số tiền 81.850.000 đồng (T5 mươi mốt triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên các quyết định khác về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 02/4/2024, bị hại kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại theo hướng chuyển tội danh “Cố ý gây thương tích” sang tội danh “Giết người” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt với tình tiết có tính chất côn đồ; đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại cho bị hại.

Ngày 08/4/2024, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, vì sau khi Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Bị cáoNguyễn Văn Thành vẫn giữ nguyên kháng cáo xin Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như trên.
  • Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Đề nghị xem lại tội danh của bị cáocấu thành tội phạm “Giết người” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt và có tính chất côn đồ, đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại; đề nghị thu thập hồ sơ bệnh án tại Bệnh viện Đ1 để làm rõ vết sẹo trên người bị hại là 02 vết sẹo hay 01 vết sẹo; tăng mức bồi thường dân sự cho bị hại.
  • Ý kiến của Kiểm sát viên:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T xin giảm nhẹ hình phạt, nhận thấy: Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm

4

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Mặt khác, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nhân thân tốt, bị hại có một phần lỗi do sau khi uống rượu đã vào nhà bị cáo để giải quyết mâu thuẫn, cãi nhau, xúc phạm với vợ, mẹ vợ của bị cáo và cũng là người đánh bị cáo trước, nên đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo từ 03 tháng tù đến 06 tháng tù. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận về phần hình phạt đối với bị cáo.

Đối với kháng cáo của bị hại: Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn, bị cáo không có mục đích tước đoạt tính mạng của bị hại, sau khi uống rượu bị hại đã tới nhà bị cáo gây sự, cãi nhau, xúc phạm với vợ và mẹ vợ của bị cáo, đánh bị cáo trước. Việc bị cáogây thương tích cho bị hại là hành vi bộc phát, khi đâm bị hại bị cáo không có chủ đích đâm vào vị trí nào trên cơ thể nên không cấu thành tội giết người và cũng không có tính chất côn đồ như ý kiến của Luật sư bảo vệ cho bị hại. Về dân sự cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 81.849.948 đồng là hoàn toàn phù hợp, có căn cứ, đúng pháp luật. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại Lê Văn T2. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận về tội danh và trách nhiệm dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo và của bị hạinộp trong hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận thương tích của bị hại Lê Văn T2 là do bị cáo gây ra. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng, không oan.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy nguyên nhân chính xảy ra việc đánh nhau giữa bị cáo và bị hại là do bị hại sau khi uống rượu đã vào nhà bị cáo gây sự với vợ và mẹ vợbị cáo; bị hại đánh bị cáo trước do vậy bị cáo mới dùng kéo đâm bị hại gây thương tích. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới đã bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng (theo biên lai thu tiền số 0001663 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh) nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là có căn cứ nên

5

được chấp nhận và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

[4] Xét kháng cáo của bị hại cho rằng bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt và có tính chất côn đồ.Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm nhận thấy, sau khi uống rượu bị hại đến nhà bị cáo gây sự với vợ và mẹ vợ bị cáo, bản thân bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn trực tiếp, bị hại là người cố ý tác động đến bị cáo trước nên bị cáo gây thương tích cho bị hại là hành vi bộc phát, khi đâm bị hại bị cáo không có chủ ý đâm vào vị trí nào trên cơ thể, không có mục đích tước đoạt tính mạng của bị hại nên không cấu thành tội phạm giết người và cũng không có tính chất côn đồ như ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung hình phạt “Dùng hung khí nguy hiểm” như ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Đối với ý kiến của Luật sưđề nghị thu thập hồ sơ bệnh án tại Bệnh viện Đ1 đểlàm rõ các vết sẹo trên người bị hại. Hội đồng xét xử nhận thấy tại Thông báo số 94/TTGĐYKPY ngày 01/3/2024 về việc đính chính Kết luận tổn thương cơ thể số 633/KLTTCT - TTPYBT của bị hại Lê Văn T2 đã làm rõ trong 02 vết sẹo trên người bị hại thì chỉ có 01 viết sẹo là vết thương do bị cáo gây ra, 01 viết sẹo còn lại là do vết mổ dẫn lưu để lại. Nhận thấy, kết luận này phù hợp với Giấy chứng nhận thương tích số 64/CNTT-BVPN ngày 10/8/2023 của Bệnh viện đa khoa khu vực phía N và các tài liệu, chứng cứ thể hiện khi bị hại nhập viện cấp cứu chỉ thể hiện có 01 vết thương ở vùng ngực trái đường nách giữa dài 02cm, sắt gọn, chưa thám sát được độ sâu. Do đó, đề nghị của Luật sư là không cần thiết.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ do bị hại cung cấp, kết luận giám định, kết quả xác minh của Toà án, xét yêu cầu của bị hại thì Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại các khoản về chi phí hợp lý cho việc cứu chữa; chi phí hợp lý cho việc bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ;thu nhập thực tế bị mất; chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc và tiền bồi thường tổn thất về tinh thần với tổng số tiền 81.850.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 584 và Điều 590 Bộ luật dân sự.

Đối với các khoản chi phí khác do bị hại yêu cầu bồi thường là không phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận là đúng.

Do đó, bị hại kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường nhưng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới nên không có căn cứ để chấp nhận.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 20.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh để bồi thường thiệt hại cho bị hại nên tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.

6

[7] Từ những nhận định trên xét thấy chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo; không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về phần tội danh và trách nhiệm dân sự.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.092.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[9] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận về phần hình phạt.

[2] Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

[3] Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Lê Văn T6 tội danh và tăng mức bồi thường thiệt hại cho bị hại.

[4]Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường cho bị hại Lê Văn T2 số tiền 81.850.000 đồng (T5 mươi mốt triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).

Tạm giữ số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng)bị cáo đã nộp tạiChi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh để đảm bảo thi hành án (theo Biên lai thu tiền số 0001663 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

7

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.092.500 đồng (Bốn triệu không trăm chín mươi hai nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[8] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (11/7/2024).

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TA, VKS, CA, THA huyện Đức Linh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Thuận;
  • - Lưu: Hồ sơ, TỔ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Phong Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-PT ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về cố ý gây thương tích (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 54/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger