Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 54/2024/HSST

Ngày 11-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Dũng

Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Lài

Ông Trần Văn Việt

Ông Nguyễn Ngọc Cang

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thạch - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 16/5/2024, đối với bị cáo:

Bùi Thị Phương N, sinh năm 1989 tại Quảng Bình; HKTT: tổ dân phố số H, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: kinh doanh; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Cha: Bùi Công N1, sinh năm 1965; Mẹ: Võ Thị H, sinh năm 1969; Chồng: Nguyễn Trung T, sinh năm 1980 và có 02 người con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2021;

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Biên P – Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).

* Bị hại:

  1. Bà Đoàn Thị Kiều T1, sinh năm 1983; Địa chỉ: P, Tòa R - G, A Hồ T, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Bà Tống Thị H1, sinh năm 1983; Địa chỉ: số C, ngõ B, đường Đ, phường N, quận B, TP Hà Nội (vắng mặt).
  3. Bà Phạm Thị Giáng H2, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số B N, phường P, quận T, Thành phố Hà Nội (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Bà Đặng Lan H3, sinh năm 1971; Địa chỉ: số G, đường A, phường Y, quận T, Thành phố Hà Nội (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  5. Bà Ngô Lệ H4, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số H phố K, phường K, quận B, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).
  6. Bà Vũ Thị L, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số C T, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (vắng mặt).
  7. Bà Bùi Thị C, sinh năm 1980; Địa chỉ: H Ngõ C V, phường L, quận B, Thành phố Hà Nội (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  8. Bà Nguyễn Thị H5, sinh năm 1980; Địa chỉ: khối H, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (vắng mặt).
  9. Bà Lâm Minh H6, sinh năm 1987; Địa chỉ: A N, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).
  10. Bà Hoàng Đàm Linh C1, sinh năm 1996; Địa chỉ: tổ B, khu A, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (vắng mặt).
  11. Bà Nguyễn Thị Thảo T2, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số A, ngách B, ngõ C, đường C, tổ A, phường Q, quận C, Thành phố Hà Nội (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  12. Bà Nguyễn Thị Mai L1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Phòng I, phường N, quận C, Thành phố Hà Nội (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  13. Bà Nguyễn Thị Thu H7, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số C ngõ C phố K, phường K, quận T, Thành phố Hà Nội. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  14. Bà Nguyễn Thị Việt H8, sinh năm 1978; Địa chỉ: P, Tòa J, phường N, quận T, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).
  15. Bà Tường Thị Thu T3, sinh năm 1985; Địa chỉ: số B đường H, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  16. Bà Đinh Thị Việt C2, sinh năm 1991; Địa chỉ: khu dân cư S, tổ F, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  17. Bà Trương Thị Hồng H9, sinh năm 1978; Địa chỉ: R căn B R, G N, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).
  18. Bà Phan Thị Thanh D, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số A, thôn D, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).
  19. Bà Hoàng Thị X, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số A - A, Chung cư A, B P, phường C, quận B, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  20. Ông Đoàn Hải Đ, sinh năm 2001; Địa chỉ: khu I, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung vụ án và kết quả điều tra

Bùi Thị Phương N là Giám đốc Công ty TNHH D1 (trụ sở đặt tại đường P, Tổ D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) có ngành nghề kinh doanh du lịch, đại lý vé máy bay, nhà hàng, khách sạn... Do làm ăn thua lỗ nên N dùng thủ đoạn gian dối bịa đặt ra các gói dịch vụ (Com bo, V) du lịch Côn Đảo giá rẻ nhưng đầy đủ tiện ích như: Vé máy bay khứ hồi các địa phương đến C, phòng khách sạn từ 2 sao đến 4 sao, xe đưa đón sân bay, suất ăn chất lượng....với các mức giá chỉ từ 5.950.000 đồng/người đến 7.950.000 đồng/người rồi đăng tải các Combo, V lên tài khoản Facebook cá nhân của N có tên “Bui Thi Phuong N2” và trang “Du Lịch T Review Côn Đảo T” do N2 làm quản trị viên. Khi có khách hàng hỏi mua các Combo, V1 du lịch C thì N2 gian dối cam kết luôn có sẵn vé máy bay cả năm 2023, khách hàng chỉ cần báo trước 10 ngày sẽ xuất vé. Để khách hàng tin tưởng, N2 lên mạng internet tải bảng seri vé, mã chuyến bay gửi cho khách; đồng thời, N2 viết sẵn phiếu thu tiền, ký tên đóng dấu rồi chụp ảnh gửi cho khách hàng và chỉ dẫn chuyển tiền đặt mua các Combo, V vào các tài khoản ngân hàng của N2 số 0081001321012 tại V2, số 8920110190689 tại M, số [...] tại V3 để chiếm đoạt. Số tiền chiếm đoạt được, N2 tiêu xài cá nhân hết.

Với thủ đoạn như trên, kết quả điều tra xác định N2 đã lừa dối chiếm đoạt tiền của các bị hại dưới đây:

  1. Đối với bà Đoàn Thị Kiều T1 (sinh năm 1983, trú tại Phòng 3004, Tòa R3 – G, A Hồ T, phường P, quận B, TP Hà Nội): Thông qua mạng Facebook, từ ngày 29/01/2023 đến 18/2/2023, bà T1 chuyển cho N2 số tiền 232 triệu đồng đặt mua 55 vé máy bay khứ hồi Hà Nội - C, thời gian bay vào tháng 04/2023 mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.
  2. Đối với bà Tống Thị H1 (sinh năm 1983, trú tại số C, ngõ B, đường Đ, phường N, quận B, TP Hà Nội): Do trước đây bà H1 đã từng mua vé máy bay của N2 đi du lịch C nên quen biết N2. Ngày 03/01/2023, bà H1 chuyển cho N2 47,4 triệu đồng đặt mua 8 Combo, V du lịch Hà Nội - C mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.
  3. Đối với bà Phạm Thị Giáng H2 (sinh năm 1978; trú tại số B N, phường P, quận T, TP Hà Nội): Thông qua giới thiệu của bạn bè nên bà H2 chuyển cho N2 31,8 triệu đồng đặt mua 4 Combo du lịch Hà Nội - C, dự kiến đi vào ngày 18/3/2923 mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.
  4. Đối với bà Đặng Lan H3 (sinh năm 1971, trú tại số G, đường A, phường Y, quận T, TP Hà Nội): Thông qua mạng Facebook, từ ngày 28/11/2023 đến 06/12/2023, bà H3 chuyển cho N2 28 triệu đồng đặt mua 4 Combo du lịch Hà Nội - C, dự kiến vào tháng 03/2023 mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.
  5. Đối với bà Ngô Lệ H4 (sinh năm 1980, trú tại số H phố K, phường K, quận B, TP Hà Nội): Thông qua mạng Facebook, từ ngày 25/2/2023 đến 02/3/2023, bà H4 chuyển cho N2 37,65 triệu đồng đặt mua 7 Combo du lịch Hà Nội - C, dự kiến vào tháng 03/2023 mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.
  6. Đối với các bà Vũ Thị L (sinh năm 1980, trú tại số C T, phường T, TP L, tỉnh Lạng Sơn), Bùi Thị C (sinh năm 1980, trú tại H Ngõ C V, phường L, quận B, TP Hà Nội) và bà Nguyễn Thị H5 (sinh năm: 1980, trú tại khối H, phường V, TP L, tỉnh Lạng Sơn): Ngày 02/02/2023, bà L chuyển cho N2 23.850.000 đồng đặt mua 3 Combo du lịch Hà Nội - C cho các bà L, C và H5 mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.
  7. Đối với bà Lâm Minh H6 (sinh năm 1987, trú tại số A N, phường N, quận L, TP Hà Nội): Thông qua mạng Facebook, từ ngày 09/11/2022 đến 12/1/2023, bà H6 chuyển cho N2 39 triệu đồng đặt mua 6 Combo du lịch Hà Nội - C, dự kiến đi vào tháng 02/2023 mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.
  8. Đối với bà Hoàng Đàm Linh C1 (sinh năm 1996, trú tại tổ B, khu A, phường T, TP H, tỉnh Quảng Ninh): Thông qua mạng Facebook, từ ngày 16/02/2023 đến 19/02/2023, bà C1 chuyển cho N2 145 triệu đồng đặt mua 21 Combo du lịch Hà Nội - C, dự kiến đi vào tháng 02/2023 mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.
  9. Đối với bà Nguyễn Thị Thảo T2 (sinh năm 1981, trú tại số A, ngách B, ngõ C, đường C, tổ A, phường Q, quận C, TP Hà Nội): Thông qua mạng Facebook, từ ngày 18/02/2023 đến 20/02/2023, bà T2 chuyển cho N2 20 triệu đồng đặt mua 3 Combo H - Côn Đảo, dự kiến đi vào tháng 6/2023 mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.
  10. Đối với bà Nguyễn Thị Mai L1 (sinh năm 1983, trú tại số P I, phường N, quận C, TP Hà Nội): Thông qua mạng Facebook, từ ngày 11/09/2022 đến 30/01/2023, bà L1 chuyển cho N2 48 triệu đồng đặt mua 8 Combo du lịchHà Nội - C, thời gian kiến đi vào tháng 03/2023 mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.
  11. Đối với bà Nguyễn Thị Thu H7 (sinh năm 1983, trú tại số P I, phường N, quận C, TP Hà Nội): Bà H7 kinh doanh du lịch nên quen biết N2. Ngày 13/02/2023, bà H7 hỏi N2 để mua 13 vé máy bay tuyến Hà Nội - C, thời gian dự kiến đi ngày 23-25/02/2023. N2 cam kết cung cấp đủ số vé và yêu cầu bà H7 chuyển tiền. Tin tưởng là tật nên bà H7 đã chuyển cho N2 60.450.000 đồng đặt mua 13 vé máy bay. Khi bị bà H7 liên tục đòi vé máy bay thì N2 mới đặt mua gửi cho bà H7 3 vé máy bay với số tiền 13.950.000 đồng, 10 vé máy bay còn lại lại bà H7 phải đi mua ở đại lý khác với số tiền 78.380.000 đồng để đền cho khách hàng. Tổng số tiền bà H7 bị chiếm đoạt là 60.450.000 đồng.
  12. Đối với bà Nguyễn Thị Việt H8 (sinh năm 1978, trú tại số P, Tòa JSC34, phường N, quận T, TP Hà Nội): Thông qua mạng Facebook, từ ngày 15/02/2023 đến ngày 16/02/2023, bà H8 chuyển cho N2 13.900.000 đồng đặt mua 02 Combo du lịch Hà Nội - C, thời gian dự kiến đi vào tháng 03/2023 mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.
  13. Đối với bà Tường Thị Thu T3 (sinh năm 1985, trú tại số B đường H, phường P, TP N, Ninh Bình): Thông qua mạng Facebook, từ tháng 9/2022 đến tháng 02/2023, bà T3 chuyển cho N2 19.700.000 đồng đặt mua 2 Combo du lịch Hà Nội - Cần Thơ - C, thời gian dự kiến đi vào ngày 13-16/02/2023 mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.
  14. Đối với bà Đinh Thị Việt C2 (sinh năm 1991, trú tại khu dân cư S, tổ F, phường Đ, TP T, tỉnh Thái Nguyên): Thông qua mạng Facebook, từ ngày 04/02/2023 đến ngày 21/02/2023, bà C2 chuyển cho N2 169.150.000 đồng để đặt mua 12 Combo du lịch Hà Nội - Côn Đảo và 30 vé máy bay khứ hồi từ Hà Nội - C, thời gian dự kiến đi vào tháng 03/2023 mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.
  15. Đối với bà Trương Thị Hồng H9 (sinh năm 1978, trú tại R4A căn 2709 R, G N, phường T, quận T, TP Hà Nội): Bà H9 có ý định đi du lịch C và quen biết N2 từ trước. Ngày 08/12/2022, N2 nhắn tin giới thiệu 8 Combo, Voucher du lịch C giá rẻ, ăn, ở nhà hàng, khách sạn hạng sang, thời dự kiến đi tháng 3/2023. Tin tưởng là thật, bà H9 đã chuyển cho N2 59,8 triệu đồng đặt mua 08 Combo du lịch C mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.
  16. Đối với bà Phan Thị Thanh D (sinh năm 1982, trú tại số A, thôn D, xã T, huyện T, TP Hà Nội): Thông qua mạng Facebook, ngày 13/02/2023, bà D chuyển cho N2 69,5 triệu đồng đặt mua 10 Combo du lịch Hà Nội - C mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.
  17. Đối với bà Hoàng Thị X (sinh năm 1990, trú tại 1703 – A6, Chung cư A, B P, phường C, quận B, TP Hà Nội): Thông qua mạng Facebook, ngày 20/2/2023, bà X chuyển cho N2 17,5 triệu đồng đặt mua 2 vé máy bay khứ hồi Hà Nội - C. Sau khi nhận tiền, N2 chỉ đặt mua vé một chiều đi từ Hà Nội đến C với số tiền là 8,75 triệu đồng. Số tiền còn lại 8.750.000 đồng, N2 chiếm đoạt.
  18. Đối với ông Đoàn Hải Đ (sinh năm 2001, trú tại khu I, TT C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu): Thông qua mạng Facebook, ngày 15/2/2023, ông Đ chuyển cho N2 53.700.000 đồng đặt mua 6 vé máy bay khứ hồi Hà Nội - C mà không biết thực chất đã bị N2 lừa dối chiếm đoạt.

Ngày 04/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; đến ngày 29/8/2023 ra Quyết định khởi tố bị can đối với Bùi Thị Phương N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Sau đó, vụ án được chuyển đến Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B để điều tra theo thẩm quyền. Quá trình điều tra, bị can N đã khai nhận dùng các thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tiền đối với các bị hại như đã nêu trên và công nhận kết quả điều tra; lời khai của bị can phù hợp với lời khai các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về diễn biến sự việc và số tiền chiếm đoạt (BL73 đến 140).

2. Về vật chứng, tài liệu thu giữ:

  • 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 14 Promaxmàu tím, số máy MQ9T3VN, gắn thẻ sim số 0915802656.
  • 01 (một) giấy xác nhận nợ ghi ngày 25/02/2023, được đánh số 01;
  • 04 (bốn) giấy cam kết về việc hoàn trả lại tiền V4 Côn đảo, ghi ngày 26/02/2023, 27/02/2023, được đánh số từ 01 đến 04;
  • 01 (một) quyển phiếu thu 02 liên, in tên CÔNG TY TNHH D1 BIỂN ĐẢO, bìa màu xanh. Được đánh số thứ tự từ 01 đến 100;
  • 01 (một) quyển phiếu thu 02 liên, in tên CÔNG TY TNHH D1 BIỂN ĐẢO, bị rách mất bìa trước. Được đánh số thứ tự từ 01 đến 95;
  • 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tên CÔNG TY TNHH D1 BIỂN ĐẢO (bản phô tô);
  • 05 (năm) hình ảnh Voucher được in trên giấy A4, có chữ ký xác nhận của Bùi Thị Phương N;
  • 04 (bốn) hình ảnh Facebook cá nhân của Bùi Thị Phương N trên trang Facebook Du lịch tâm linh Review Côn Đảo tất tần tật, được in trên giấy A4, có chữ ký xác nhận của Bùi Thị Phương N.

Tất cả vật chứng trên đã chuyển đến Cục Thi hành án tỉnh quản lý.

3. Về trách nhiệm dân sự:

  • Bà Đoàn Thị Kiều T1 yêu cầu bị can N bồi thường 232 triệu đồng và số tiền 10 triệu đồng mà N đã mượn của bà T1 trước đó.
  • Bà Tống Thị H1 yêu cầu N bồi thường 47.400.000 đồng.
  • Bà Phạm Thị Giáng H2 yêu cầu N bồi thường 31.800.000 đồng.
  • Bà Đặng Lan H3 yêu cầu N bồi thường 28.000.000 đồng.
  • Bà Ngô Lệ H4 yêu cầu N bồi thường 33.150.000 đồng.
  • Bà Vũ Thị L yêu cầu N bồi thường 7.950.000 đồng.
  • Bà Bùi Thị C và Nguyễn Thị H5 yêu cầu N bồi thường 15,9 triệu đồng.
  • Bà Lâm Minh H6 yêu cầu N bồi thường 39 triệu đồng.
  • Bà Hoàng Đàm Linh C1 yêu cầu N bồi thường 143 triệu đồng.
  • Bà Nguyễn Thị Thảo T2 yêu cầu N3 trả bồi thường 20 triệu đồng.
  • Bà Nguyễn Thị Mai L1 yêu cầu N3 trả bồi thường 48 triệu đồng.
  • Bà Nguyễn Thị Thu H7 yêu cầu N bồi thường 92.538.000 đồng (bao gồm tiền mua vé máy bay ở đại lý khác đền cho khách hàng và số tiền còn lại N đã chiếm đoạt chưa trả).
  • Bà Nguyễn Thị Việt H8 yêu cầu N3 trả bồi thường 13.900.000 đồng.
  • Bà Tường Thị Thu T3 yêu cầu N3 trả bồi thường 19.700.000 đồng.
  • Bà Đinh Việt C2 yêu cầu N3 trả bồi thường 169.150.000 đồng.
  • Bà Trương Thị Hồng H9 yêu cầu N3 trả bồi thường 59.800.000 đồng.
  • Bà Phan Thị Thanh D yêu cầu N bồi thường 69.500.000 đồng.
  • Bà Hoàng Thị X yêu cầu N3 trả bồi thường 15.596.000 đồng (bao gồm 02 vé máy bay khứ hồi bà X mua lại ở đại lý khác và trả lại 02 vé máy bay khứ hồi từ C đến Hà Nội).
  • Ông Đoàn Hải Đ yêu cầu N3 trả số tiền 50.700.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị can N và gia đình chưa bồi thường.

4. Các vấn đề liên quan khác:

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh còn tiếp nhận đơn của Công ty CP O tố giác Bùi Thị Phương N chiếm đoạt 141.200.000 đồng thông qua mua bán 36 vé may bay tuyến TP Hồ Chí Minh - C. Do đây là tranh chấp hợp đồng nên Cơ quan điều tra trả lời và hướng dẫn Công ty CP O khởi kiện tại Toàn án để được giải quyết theo quy định.

Bản cáo trạng số 53/CT-VKS-P2 ngày 20-3-2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Bùi Thị Phương N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Bùi Thị Phương N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Bùi Thị Phương N từ 13 đến 15 năm tù. Đề nghị xử lý trách nhiệm dân sự, vật chứng theo quy định.

Luật sư Lê Biên P phát biểu bào chữa cho bị cáo: Luật sư đồng ý về tội danh và điều luật truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội do bị cáo làm ăn kinh doanh thua lỗ, phải vay nợ nên lấy tiền của bị hại để trả nợ. Bị cáo phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình có 02 con còn nhỏ. Đề nghị xem xét quyết định hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo.

Bị cáo Bùi Thị Phương N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn, hối cải. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ được tại hiện trường, kết luận giám định, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Bùi Thị Phương N là Giám đốc Công ty TNHH D1 (trụ sở đặt tại đường P, Tổ D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) có ngành nghề kinh doanh du lịch, đại lý vé máy bay, nhà hàng, khách sạn... Do làm ăn thua lỗ nên N dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin các gói dịch vụ (Com bo, V) du lịch Côn Đảo giá rẻ nhưng đầy đủ tiện ích như: Vé máy bay khứ hồi các địa phương đến C, phòng khách sạn từ 2 sao đến 4 sao, xe đưa đón sân bay, suất ăn chất lượng....với các mức giá chỉ từ 5.950.000 đồng/người đến 7.950.000 đồng/người rồi đăng tải các Combo, V lên tài khoản Facebook cá nhân của N có tên “Bui Thi Phuong N2” và trang "D2" do N2 quản trị làm cho nhiều người tin tưởng là thật nên đã chuyển tiền đặt mua vé máy bay, C3, V du lịch C vào các tài khoản ngân hàng số 0081001321012 tại V2, số 8920110190689 tại M và số [...] tại V3 đứng tên N2 để chiếm đoạt tiền của các bị hại.

Với thủ đoạn gian dối nêu trên, N2 đã chiếm đoạt của các bà Đoàn Thị Kiều T1, Tống Thị H1, Phạm Thị Giáng H2, Đặng Lan H3, Ngô Lệ H4, Vũ Thị L, Bùi Thị C, Nguyễn Thị H5, Lâm Minh H6, Hoàng Đàm Linh C1, Nguyễn Thị Thảo T2, Nguyễn Thị Mai L1, Nguyễn Thị Thu H7, Nguyễn Thị Việt H8, Tường Thị Thu T3, Đinh Thị Việt C2, Trương Thị Hồng H9, Phan Thị Thanh D, Hoàng Thị X và ông Hoàng Hải Đ1 với tổng số tiền là 1.107.650.000 đồng.

Do vậy, hành vi bị cáo thực hiện đã phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự đúng như quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, hành vi còn gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng xấu đến hoạt động du lịch tại địa phương. Bị cáo là người trưởng thành nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân và trả nợ, bị cáo đã nhiều lần chiếm đoạt tài sản của các bị hại với số tiền lớn. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo nhiều lần thực hiện thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tiền của nhiều bị hại nên thuộc tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ:

Xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

  • Bà Đoàn Thị Kiều T1 yêu cầu bị can N2 bồi thường 232 triệu đồng và số tiền 10 triệu đồng mà N2 đã mượn của bà T1 trước đó.
  • Bà Tống Thị H1 yêu cầu N2 bồi thường 47.400.000 đồng.
  • Bà Phạm Thị Giáng H2 yêu cầu N2 bồi thường 31.800.000 đồng.
  • Bà Đặng Lan H3 yêu cầu N2 bồi thường 28.000.000 đồng.
  • Bà Ngô Lệ H4 yêu cầu N2 bồi thường 33.150.000 đồng.
  • Bà Vũ Thị L yêu cầu N2 bồi thường 7.950.000 đồng.
  • Bà Bùi Thị C và Nguyễn Thị H5 yêu cầu N2 bồi thường 15.900.000 đồng.
  • Bà Lâm Minh H6 yêu cầu N2 bồi thường 39.000.000 đồng.
  • Bà Hoàng Đàm Linh C1 yêu cầu N2 bồi thường 143.000.000 đồng.
  • Bà Nguyễn Thị Thảo T2 yêu cầu N3 trả bồi thường 20.000.000 đồng.
  • Bà Nguyễn Thị Mai L1 yêu cầu N3 trả bồi thường 48.000.000 đồng.
  • Bà Nguyễn Thị Thu H7 yêu cầu N2 bồi thường 92.538.000 đồng (bao gồm tiền mua vé máy bay ở đại lý khác đền cho khách hàng và số tiền còn lại N2 đã chiếm đoạt chưa trả).
  • Bà Nguyễn Thị Việt H8 yêu cầu N3 trả bồi thường 13.900.000 đồng.
  • Bà Tường Thị Thu T3 yêu cầu N3 trả bồi thường 19.700.000 đồng.
  • Bà Đinh Việt C2 yêu cầu N3 trả bồi thường 169.150.000 đồng.
  • Bà Trương Thị Hồng H9 yêu cầu N3 trả bồi thường 59.800.000 đồng.
  • Bà Phan Thị Thanh D yêu cầu N2 bồi thường 69.500.000 đồng.
  • Bà Hoàng Thị X yêu cầu N3 trả bồi thường 15.596.000 đồng (bao gồm 02 vé máy bay khứ hồi bà X mua lại ở đại lý khác và trả lại 02 vé máy bay khứ hồi từ C đến Hà Nội).
  • Ông Đoàn Hải Đ yêu cầu N3 trả số tiền 50.700.000 đồng.

Các yêu cầu của các bị hại là hợp pháp; tại phiên tòa bị cáo tự nguyện đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại nên ghi nhận sự tự nguyện, buộc bị cáo bồi thường theo yêu cầu của các bị hại.

[6] Về xử lý vật chứng:

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị Phương N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bùi Thị Phương N 14 (mười bốn) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự;

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo tại phiên tòa. Buộc bị cáo Bùi Thị Phương N bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 1.147.084.000 đồng, cụ thể như sau:

  • - Trả cho bà Đoàn Thị Kiều T1 số tiền 242.000.000 đồng.
  • - Trả cho bà Tống Thị H1 số tiền 47.400.000 đồng.
  • - Trả cho bà Phạm Thị Giáng H2 số tiền 31.800.000 đồng.
  • - Trả cho bà Đặng Lan H3 số tiền 28.000.000 đồng.
  • - Trả cho bà Ngô Lệ H4 số tiền 33.150.000 đồng.
  • - Trả cho bà Vũ Thị L số tiền 7.950.000 đồng.
  • - Trả cho bà Bùi Thị C và Nguyễn Thị H5 số tiền 15.900.000 đồng.
  • - Trả cho bà Lâm Minh H6 số tiền 39.000.000.
  • - Trả cho bà Hoàng Đàm Linh C1 số tiền 143.000.000 đồng.
  • - Trả cho bà Nguyễn Thị Thảo T2 số tiền 20.000.000 đồng.
  • - Trả cho bà Nguyễn Thị Mai L1 số tiền 48.000.000 đồng.
  • - Trả cho bà Nguyễn Thị Thu H7 số tiền 92.538.000 đồng.
  • - Trả cho bà Nguyễn Thị Việt H8 số tiền 13.900.000 đồng.
  • - Trả cho bà Tường Thị Thu T3 số tiền 19.700.000 đồng.
  • - Trả cho bà Đinh Việt C2 số tiền 169.150.000 đồng.
  • - Trả cho bà Trương Thị Hồng H9 số tiền 59.800.000 đồng.
  • - Trả cho bà Phan Thị Thanh D số tiền 69.500.000 đồng.
  • - Trả cho bà Hoàng Thị X số tiền 15.596.000 đồng.
  • - Trả cho ông Đoàn Hải Đ số tiền 50.700.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung công quỹ 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 14 Promaxmàu tím, số máy MQ9T3VN, gắn thẻ sim số 0915802656.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) giấy xác nhận nợ ghi ngày 25/02/2023, được đánh số 01; 04 (bốn) giấy cam kết về việc hoàn trả lại tiền V4 Côn đảo, ghi ngày 26/02/2023, 27/02/2023, được đánh số từ 01 đến 04; 01 (một) quyển phiếu thu 02 liên, in tên CÔNG TY TNHH D1 BIỂN ĐẢO, bìa màu xanh. Được đánh số thứ tự từ 01 đến 100; 01 (một) quyển phiếu thu 02 liên, in tên CÔNG TY TNHH D1 BIỂN ĐẢO, bị rách mất bìa trước được đánh số thứ tự từ 01 đến 95; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tên CÔNG TY TNHH D1 BIỂN ĐẢO (bản phô tô); 05 (năm) hình ảnh Voucher được in trên giấy A4, có chữ ký xác nhận của Bùi Thị Phương N; 04 (bốn) hình ảnh Facebook cá nhân của Bùi Thị Phương N trên trang Facebook Du lịch tâm linh Review Côn Đảo tất tần tật, được in trên giấy A4, có chữ ký xác nhận của Bùi Thị Phương N.

Các vật chứng trên đang được bảo quản tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo biên bản giao nhận vật chứng số 56/BB-CTHADS ngày 09/4/2024.

4. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 46.412.520 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Cục THADS tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Bị cáo; người bào chữa; bị hại;
  • - Lưu: Tòa Hình sự, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trung Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HSST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 54/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Phương N Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger