Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH TƯỜNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HS-ST

Ngày 11-6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thanh Hương và ông Phùng Văn Thông.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Đặng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Phan Anh T, sinh ngày 23 tháng 4 năm 2005; Nơi cư trú: Thôn D, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh T1, sinh năm 1975 và bà Hồ Thị Thu H, sinh năm 1978; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện tại ngoại “có mặt”.

- Bị hại: Anh Bùi Hoàng N (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1986, chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1987 (là bố, mẹ của anh N); cùng nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Người đại diện theo ủy quyền của anh Đ, chị N1: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Lê Duy H1, sinh năm 1986 và chị Bùi Thị M, sinh năm 1991; cùng nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
  • + Ông Bùi Đình D, sinh năm 1957; nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
  • - Người làm chứng: Anh Phùng Văn T2, sinh năm 2003 (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 01/2023, Phan Anh T được vợ chồng anh Lê Duy H1, chị Bùi Thị M thuê làm nhân công bốc, dỡ, xếp hàng hóa cho cửa hàng chăn, ga, gối, đệm...của gia đình anh H1, chị M. Việc thuê T làm việc do chị MT thỏa thuận miệng với nhau.

Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 25/02/2023, Phan Anh T đến kho hàng của anh H1, chị M ở tổ dân phố B, thị trấn T để làm việc bốc xếp hàng hóa và giao hàng cho khách như thường ngày. Đến khoảng 11 giờ 10 phút cùng ngày, do thiếu tấm Pallet kê hàng, T phải di chuyển các tấm Pallet đang để ở vỉa hè bên trái đường nội thị băng 2, trước cửa kho hàng nhà H1 Mơ vào bên trong kho hàng để xếp hàng. Lúc này, T nhìn thấy chiếc xe chuyên dùng để nâng hàng nhãn hiệu Toyota, kiểu loại TFD15, tên thương mại GENEO 15 số khung 7FD18-12946, số động cơ 1DZ0081396 của nhà anh H1 đang đỗ ở bên phải đường nội thị băng 2, trước cửa kho hàng nhà anh chị H, hướng từ cụm kinh tế- xã hội T- T đi UBND thị trấn T, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện. Do muốn giảm sức lao động nên mặc dù không có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng do cơ sở đào tạo người điều khiển xe máy chuyên dùng cấp, T vẫn tự ý lấy chiếc xe để nâng các tấm Pallet vào kho để xếp hàng. T đi đến điều khiển chiếc xe nâng này lùi ra khu vực lòng đường hướng về phía đi từ cụm kinh tế- xã hội T- T, rồi tiến về phía đi UBND thị trấn T và quay đầu xe chắn ngang giữa lòng đường nội thị băng 2, đầu xe hướng về vị trí các tấm Pallet đang xếp trên vỉa hè nêu trên, đầu hai thanh nâng cách mép đường trái 2,1m theo hướng từ cụm kinh tế- xã hội T- T đi UBND thị trấn T. Tiếp đó, T điều khiển hai thanh nâng hàng phía trước của xe nâng, nâng lên cao so với mặt đường 1,4m và định điều khiển xe nâng tiến đến vị trí các tấm Pallet đang xếp trên vỉa hè để nâng các tấm Pallet này thì nhìn thấy một chiếc xe nâng hàng khác nhãn hiệu TCM của nhà Hiếu M1 đang đỗ ở dệ đường, chắn giữa đầu xe nâng T đang điều khiển với các tấm Pallet đang xếp ở trên vỉa hè, cản trở việc T tiến xe nâng vào để nâng các tấm Pallet. Thấy vậy, T tắt máy và đỗ chiếc xe nâng ở vị trí chắn ngang giữa lòng đường nội thị băng 2 lấn chiếm 3,7m lòng đường, đầu hai thanh nâng cách mép đường trái 2,1m, đuôi xe nâng cách mép đường phải 1,7m, nhưng không đặt biển cảnh báo để cảnh báo cho người và phương tiện khác biết, rồi xuống xe, đi đến vị trí chiếc

xe nâng nhãn hiệu TCM của nhà Hiếu M1 đang đỗ ở dệ đường và điều khiển chiếc xe nâng này ra khỏi vị trí đang đỗ. Khi T đang điều khiển chiếc xe nâng nhãn hiệu TCM nêu trên thì anh Bùi Hoàng N, sinh ngày 02/10/2007, trú tại TDP B, thị trấn T, huyện V (là người chưa đủ 16 tuổi, chưa có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88L1- 382.85 đi ở bên phải đường nội thị băng 2, theo hướng từ UBND thị trấn T đến vị trí chiếc xe nâng T đang đỗ chắn ngang giữa lòng đường. Do N điều khiển xe mô tô đi với tốc độ cao (khoảng 50-60km/h) và không nhìn thấy hai thanh nâng hàng của xe nâng nên phần cổ của N đã va chạm vào thanh nâng hàng bên phải của xe nâng hàng nhãn hiệu Toyota, kiểu loại TFD15, tên thương mại GENEO 15 số khung 7FD18-12946, số động cơ 1DZ0081396 mà T đỗ chắn ngang giữa lòng đường trước đó. Sau khi va chạm, N bị ngã văng ra đường, còn xe mô tô biển kiểm soát 88L1- 382.85 do N điều khiển tiếp tục di chuyển thêm 70m nữa thì đổ ra vỉa hè ở bên trái đường hướng từ UBND thị trấn T đi cụm kinh tế- xã hội T- T và va chạm vào người anh Phùng Văn T2, sinh năm 2003, trú tại thôn Đ, xã Y, huyện V đang đứng ở trên vỉa hè, nhưng không gây thương tích gì. Sau khi tai nạn xảy ra, T2 điều khiển xe nâng nhãn hiệu Toyota, kiểu loại TFD15, tên thương mại GENEO 15 số khung 7FD18-12946, số động cơ 1DZ0081396 nêu trên đến đỗ ở dệ đường bên phải hướng từ cụm kinh tế- xã hội T- T đi UBND thị trấn T, cách vị trí xảy ra tai nạn khoảng 05m và hạ hai thanh nâng xuống để tránh gây tai nạn cho người và phương tiện khác.

Hậu quả: Bùi Hoàng N bị thương được đưa đi cấp cứu nhưng do thương tích nặng nên đã bị tử vong ngoại viện, xe mô tô liên quan bị hư hỏng.

Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện liên quan và tổ chức các hoạt động điều tra theo quy định pháp luật.

Hồi 13 giờ 34 phút ngày 25/02/2023, Công an huyện V đã sử dụng máy kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở nhãn hiệu ALCOSENSE-PRODIGY II, số ID: 869217, ngày hiệu chỉnh gần nhất 31/01/2023 để tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Phan Anh T. Kết quả trong hơi thở của Phan Anh T không có nồng độ cồn.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại đường nội thị băng hai thuộc tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V, Vĩnh Phúc, trên mặt đường nhựa phía trước kho hàng nhà anh Lê Duy H1tổ dân phố B, thị trấn T, V, tỉnh Vĩnh Phúc. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn mặt đường được rải nhựa tương đối bằng phẳng, mặt đường khô rộng 7,50m, thẳng hai bên đường là vỉa hè, không có hệ thống biển báo hiệu đường bộ. Tiếp đến là khu dân cư ở hai bên đường. Vỉa hè bên phải theo chiều cụm kinh tế xã hội Tân Tiến đi

Ủy ban nhân dân thị trấn T rộng 5,70m, vỉa hè bên trái theo chiều đi này rộng 5,20m, lưu lượng phương tiện tham gia giao thông bình thường. Chọn chiều từ cụm kinh tế xã hội T3 đi Ủy ban nhân dân thị trấn T làm chiều chuẩn để tiến hành khám nghiệm. Các dấu vết kích thước được miêu tả cụ thể như sau: Xe nâng hàng Geneo 15 màu vàng xanh bên ngoài có dán chữ Toyota Hiếu Mơ đang đỗ, hai thanh nâng có kích thước tương tự nhau, kích thước 1,56m x 0,10m hướng theo chiều đi ủy ban nhân dân thị trấn T, đầu thanh nâng hàng bên phải bám dính tổ chức mô cơ trên diện 0,10m x 0,015m. Trục bánh trước bên phải tại mép đường phải. Trục sau bên phải nằm trên vỉa hè đo ra mép đường phải là 0,20m. Đầu thanh nâng hàng bên phải đo vào mép đường phải là 0,50m, xe nâng hàng kí hiệu là (1), vết máu kí hiệu là (2) có kích thước 5,50m x 3,00m, đầu vết máu dạng máu phun, văng bắn chiều hướng từ ủy ban nhân dân thị trấn T đi cụm kinh tế xã hội T, đầu (2) cách mép đường phải là 5,10m, cuối (2) là dạng vết máu loang đậm đặc đo vào mép đường phải là 5,50m. Đo từ trục sau bên trái của (1) đến tâm của (2) là 9,20m, đo tâm (2) đến mép đường chuẩn là 5,60m. Vết cày kí hiệu là (3) kích thước 0,50m x 0,02m, vết cày này nằm trên vỉa hè phải theo chiều hướng từ ủy ban nhân dân thị trấn T đi cụm K, đầu (3) đo ra mép đường phải là 2,3m, cuối (3) cách mép đường phải là 2,15m tại vị trí tiếp xúc bàn để chân người ngồi phía sau bên phải với mặt vỉa hè. Đo từ tâm (2) đến đầu (3) là 70,19m. Xe mô tô biển kiểm soát 88L1-382.85 kí hiệu là (4) đang nằm đổ nghiêng phải đầu xe hướng đi cụm kinh tế xã hội T, đuôi xe hướng đi ủy ban nhân dân thị trấn T. Trục bánh sau cách mép đường phải 2,45m, trục trước (4) cách mép đường phải là 2,2m. Đo từ trục sau bên trái của (1) đến trục sau của (4) là 77,80m.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 88L1- 382.85; 01 xe nâng hàng, màu vàng xanh, nhãn hiệu GENEO 15, bên ngoài có dán chữ TOYOTA; mẫu tổ chức mô cơ thu tại thanh nâng hàng xe nâng hàng GENEO 15; mẫu máu thu tại vị trí số (2) tại hiện trường.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

- 01 xe nâng hàng nhãn hiệu Geneo 15, màu vàng xanh, bên ngoài có dán chữ Toyota, Hiếu Mơ, có tổng chiều dài tính đến đầu hai thanh nâng là 3,7m, rộng 1,92m, cao 2,00m, chiếc xe này gồm có hai trục bốn bánh, bên trên có một ghế ngồi, có hệ thống vô lăng sau khi va chạm để lại các dấu vết mới như sau: Hai thanh nâng hàng bằng kim loại có kích thước tương tự nhau, kích thước 1,56m x 0,10m. Cách đầu thanh nâng bên phải 06cm phát hiện tổ chức mô cơ trên diện (0,10 x 0,015)m, mẫu này đã được thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường. Kiểm tra toàn bộ khung xe nhiều bụi đất đá khô, không

phát hiện dấu vết gì mới. Hai thanh nâng khi hạ thấp nhất nằm tại mặt đường, khi nâng cao nhất cách mặt đường 3,00m.

- 01 xe mô tô biển kiểm soát: 88L1- 382.85, nhãn hiệu HONDA- AIRBLADE màu sơn: Đen- Xám để lại các dấu vết mới sau khi xảy ra tại nạn như sau: Tại đầu tay phanh bên phải phía trước có vết mài mòn kim loại theo chiều từ trước về sau trên diện (1,5 x 1,0)cm. Vị trí chân gương bên phải mặt phía trước có vết trượt mài mòn kim loại từ trước về sau, từ phải qua trái (1,5 x 1,0)cm. Tại ốp mặt nạ phía trước đầu xe bên phải có vết trượt xước mài mòn nhựa theo chiều từ trước về sau trên diện (24 x 05)cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 75cm. Cánh yếm bên phải có vết trượt xước, mài mòn nhựa, nứt vỡ trên diện (20 x 12)cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 40cm. Tại bàn để chân phía trước người lái bên phải có dấu vết trượt xước mài mòn nhựa, nứt vỡ trên diện (25 x 20)cm. Tại bàn để chân người ngồi sau bên phải mặt phía dưới có vết trượt xước, mài mòn kim loại từ dưới lên trên kích thước (3 x 1)cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 42cm. Tại phần đầu bô ống xả mặt phía ngoài có vết chà xước kim loại theo chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên, trên diện (3,0 x 1,5)cm, vị trí này cách đuôi ống xả 40cm. Tại ốp mặt nạ phía trước đầu xe có dán chữ Nhật Hoàng phát hiện dấu vết trượt xước, mài mòn nhựa theo chiều từ trước về sau trên diện (20 x 04)cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 76cm. Tại ốp nhựa mặt nạ phía trước bên trái phát hiện dấu vết trượt xước mài mòn nhựa theo chiều từ trước về sau, nứt vỡ ốp nhựa trên diện (20 x 07)cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 72cm. Mặt ngoài cánh yếm bên trái có vết trượt xước mài mòn nhựa theo chiều từ sau về trước, từ dưới lên trên, trên diện (37 x 15)cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 54cm. Tại ốp nhựa bảo vệ đèn pha phía trước bên trái phát hiện dấu vết trượt xước mài mòn nhựa theo chiều từ trước về sau trên diện (09 x 04)cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 68cm. Tại vị trí mặt ngoài bên trái lốp bánh trước phát hiện vết trượt xước mài mòn cao su trên diện (4,5 x 10)cm, vị trí gần nhất cách chân van theo chiều kim đồng hồ 27cm.

Ngày 25/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định số 139 trưng cầu Phòng K- Công an tỉnh V giám định pháp y về tử thi để xác định nguyên nhân tử vong của Bùi Hoàng N.

Ngày 10/03/2023, Phòng K Công an tỉnh V có bản kết luận giám định số 557/KLGĐ-PC09-PY, kết luận:

* Dấu hiệu chính qua giám định:

  • - Trên tử thi Bùi Hoàng N có các vết sây sát, mài trượt da vùng cổ, tay, chân.
  • - Vỡ xương hộp sọ theo đường khớp đỉnh- chẩm, tách rời xương vòm sọ; tụ máu diện rộng dưới màng cứng.
  • - Xương cột sống mất vững.
  • - Xét nghiệm: Trong mẫu máu của tử thi Bùi Hoàng N không phát hiện cồn (E) và các chất ma túy thường gặp.

* Nguyên nhân chết của Bùi Hoàng N: Chấn thương sọ não trên người bị đa chấn thương.

* Cơ chế hình thành thương tích:

  • - Tổn thương sây sát, mài trượt da, tràn khí dưới da vùng cổ trước; xương cột sống cổ mất vững do va chạm, mài trượt trực tiếp với vật tày, cứng gây nên..
  • - Tổn thương vỡ xương hộp sọ theo đường khớp đỉnh – chẩm, tách rời xương vòm sọ; tụ máu diện rộng dưới màng cứng do tử thi đang di chuyển với tốc độ cao về phía trước thì vùng cổ bị va đập với vật tày dừng lại đột ngột, vùng sọ não văng mạnh về phía trước theo quán tính gây nên.
  • - Các tổn thương khác do va đập, mài trượt với vật tày gây nên.

Ngày 26/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu số 140 và 141, trưng cầu Phòng K- Công an tỉnh V giám định Nồng độ cồn, Chất ma túy trong mẫu máu thu của tử thi Bùi Hoàng N.

Tại bản kết luận giám định số 527 ngày 07/3/2023 của Phòng K- Công an tỉnh V, kết luận: Không phát hiện thấy có cồn (Ethanol) trong mẫu máu thu của tử thi Bùi Hoàng N- SN: 2007, trú tại tổ dân phố N- thị trấn T- huyện V- tỉnh Vĩnh Phúc gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 528 ngày 07/3/2023 của Phòng K- Công an tỉnh V, kết luận: Không tìm thấy chất ma túy thường gặp (Morphine, H2, Methamphetamine, MDMA, Ketamine, 2C-B và TFMPP) trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ ghi là mẫu máu thu của tử thi Bùi Hoàng N, sinh năm 2007, trú tại tổ dân phố N, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngày 25/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiến hành thu mẫu nước tiểu của Phan Anh T để phục vụ giám định theo quy định. Ngày 26/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định số 142 trưng cầu Phòng K- Công an tỉnh V giám định Chất ma túy trong mẫu nước tiểu của Phan Anh T.

Tại bản kết luận giám định số 529/KLGĐ ngày 07/3/2023 của Phòng K- Công an tỉnh V, kết luận: Không tìm thấy chất ma túy thường gặp (Morphine, H2, Methamphetamine, MDMA, Ketamine, 2C-B và TFMPP ) trong mẫu nước tiểu nâu thu của Phan Anh T, sinh ngày 23/4/2005, trú tại thôn D, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc gửi giám định.

Ngày 25/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiến hành thu giữ 01 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của nhà Lê Duy H1TDP B, thị trấn T, huyện V. Ngày 26/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định số 143 trưng cầu Phòng K- Công an tỉnh V giám định Kỹ thuật số điện tử đối với đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của nhà anh H1 nêu trên, với yêu cầu: Chụp ảnh, in ảnh, thuyết minh đặc điểm nhận dạng, diễn biến hành động của người và phương tiện xuất hiện trong đoạn video gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 822/KL-KTHS ngày 30/03/2023 của Phòng K- Công an tỉnh V, kết luận: Trích xuất được 11 (mười một) ảnh theo yêu cầu giám định; chi tiết được thể hiện trong bản ảnh giám định. Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) bản ảnh giám định gồm 07 (bảy) trang giấy A4 có chữ ký của Giám định viên.

Bản ảnh được thuyết minh như sau:

Hình 1-2: Hình ảnh 01 người mặc quần áo dài (Ký hiệu N1) điều khiển chiếc xe nâng (ký hiệu Xe 1) từ ven đường bên phải theo hướng quan sát đi ra khu vực lòng đường.

Hình 3-4: N1 điều khiển nâng càng nâng của xe 1 từ dưới lên trên, Sau đó N1 bước xuống khỏi Xe 1 rồi đi về vị trí chiếc Xe nâng khác đang đỗ phía bên trái đường (Ký hiệu Xe 2).

Hình 5-6: N1 bước, ngồi lên chiếc Xe 2. Lúc này xuất hiện 01 người điều khiển xe mô tô (ký hiệu N2) đi từ phía xa đến hướng tới vị trí chiếc Xe 1.

Hình 7-8: N2 va chạm với Càng nâng của Xe 1 (Khoanh đỏ).

Hình 9-10: Sau va chạm, N2 bị hất văng lên rồi ngã xuống lòng đường. Xe mô tô tiếp tục di chuyển theo quán tính khuất khỏi quan sát.

Ảnh 11: N2 nằm trên đường, N1 bước xuống khỏi Xe 2 rồi đi khỏi.

Ngày 26/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Yêu cầu định giá tài sản số 208 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện V định giá xác định thiệt hại của xe chiếc mô tô biển kiểm soát 88L1- 382.85 sau khi tai nạn xảy ra

Tại bản kết luận giám định số 18/KL-HĐĐGTTHS ngày 03/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88L1- 382.85 là 1.010.000đ (Một triệu không trăm mười nghìn đồng).

Cơ quan điều tra đã thông báo nội dung các bản kết luận giám định, định giá tài sản nêu trên cho Phan Anh T; đại diện gia đình tử thi Bùi Hoàng N và những người liên quan biết. Sau khi được thông báo thì tất cả những người nêu trên đều đồng ý và không thắc mắc gì.

Ngày 27/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V có văn bản số 143/CV-ĐTTH đề nghị Sở Giao thông vận tải tỉnh V cung cấp thông tin có liên quan gồm: Điều kiện để được điều khiển chiếc xe máy chuyên dùng (xe nâng hàng) nhãn hiệu Toyota mã kiểu loại TFD15, tên thương mại GENEO 15 số khung 7FD18-12946, số động cơ 1DZ0081396 (độ tuổi,... )? Phạm vi sử dụng và hoạt động của chiếc xe này? (Phạm vi hoạt động của chiếc xe này, có được tham gia hoạt động trên đường giao thông không). Được quy định tại văn bản nào? Điều kiện để chiếc xe máy chuyên dùng nêu trên được sử dụng, tham gia giao thông? Có buộc phải đăng ký, đăng kiểm để được cấp giấy chứng nhận kiểm định không? Khoản 1 Điều 62- Luật giao thông đường bộ 2008 quy định về điều kiện của người điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông: Người điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khỏe phù hợp với ngành ngề lao động và có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng do cơ sở đào tạo người điều khiển xe máy chuyên dùng cấp. Vậy, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng được nêu trong điều luật này có được coi là giấy phép lái xe như quy định tại Điều 59- Luật giao thông đường bộ hay không?

Ngày 03/3/2023, Sở GTVT tỉnh V có văn bản số 612/SGTVT-QLVT,PT&NL phúc đáp Cơ quan điều tra với nội dung: Tại khoản 21 Điều 3 Luật giao thông đường bộ số 23/2008/QH12: “Phương tiện tham gia giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông đường bộ và xe máy chuyên dùng”.

  • - Về điều kiện tham gia giao thông của xe máy chuyên dùng được quy định tại Điều 57 Luật giao thông đường bộ số 23/2008/QH12.
  • - Về điều kiện của người điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ được quy định tại Điều 62 Luật giao thông đường bộ số 23/2008/QH12.
  • - Quy định về bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ cho người điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông được quy định tại Thông tư 06/2011/TT-BGTVT ngày 07/3/2011 của Bộ G.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, Phan Anh T đã tự nguyện bồi thường tiền mai táng phí, tổn thất tinh thần cho gia đình Bùi Hoàng N3 số tiền 125.000.000đ; anh Lê Duy H1 tự nguyện hỗ trợ mai táng phí và tổn thất tinh thần cho gia đình Bùi Hoàng N số tiền 200.000.000đ. Đại diện theo ủy quyền của gia đình Bùi Hoàng N là ông Nguyễn Văn P (là bác rể của N) đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu ai phải bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Phan Anh T.

Đối với hư hỏng của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88L1 – 382.85, ông Bùi Đình D xin tự khắc phục hậu quả, không yêu cầu ai phải bồi thường gì.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phan Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số: 113/CT- VKSVT ngày 11/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường đã truy tố bị cáo Phan Anh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Phan Anh T. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 101; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Anh T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm; thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài ra, do bị cáo làm nghề tự do nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị về xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Anh T không có tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã có trình bày và xác nhận: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo Phan Anh T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 125.000.000₫ (là tiền mai táng phí và tổn thất tinh thần). Anh Lê Duy H1 tự nguyện hỗ trợ mai táng phí và tổn thất tinh thần cho gia đình Bùi Hoàng N số tiền 200.000.000đ. Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì thêm. Tại Cơ quan điều tra người đại diện của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lê Duy H1 và chị Bùi Thị M vắng mặt nhưng quá trình điều tra trình bày: Anh chị là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe nâng nhãn hiệu TOYOTA, kiểu loại TFD15, tên thương mại GENEO 15 số khung 7FD18-12946, số động cơ 1DZ0081396 và là người thuê T làm việc cho cửa hàng bán chăn, ga, gối, đệm... nhà mình. Quá trình điều tra xác định, anh H1, chị M không giao và chỉ đạo T điều khiển xe nâng để nâng hàng. Việc T điều khiển xe nâng đỗ chắn ngang lòng đường để nâng hàng dẫn đến gây tai nạn giao thông làm anh N bị tử vong là do T tự ý thực hiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Phan Anh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, bản ảnh hiện trường, kết quả khám nghiệm phương tiện, dữ liệu camera, bản ảnh khám phương tiện, kết luận giám định pháp y về tử thi cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 25/02/2023, Phan Anh T thực hiện công việc bốc xếp hàng hóa tại kho hàng nhà anh chị H ở tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V. Trong quá trình làm việc, mặc dù không có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng do cơ sở đào tạo người điều khiển xe máy chuyên dùng cấp, nhưng T vẫn tự ý điều khiển chiếc xe chuyên dùng nhãn hiệu Toyota, kiểu loại TFD15, tên thương mại GENEO 15 số khung 7FD18-12946, số động cơ 1DZ0081396 để nâng các tấm Pallet đang xếp trên vỉa hè bên trái đường nội thị băng 2, trước cửa kho hàng nhà Hiếu M1. Khi T điều khiển xe nâng nêu trên đến vị trí chắn ngang giữa lòng đường nội thị băng 2, đầu xe hướng về vị trí các tấm Pallet đang xếp trên vỉa hè, hai thanh nâng của xe nâng lên cao so với mặt đường 1,4m, đầu hai thanh nâng cách mép đường trái 2,1m theo hướng từ cụm kinh tế- xã hội T- T đi UBND thị trấn Thổ Tang thì nhìn thấy chiếc xe nâng hàng nhãn hiệu TCM của nhà Hiếu M1 đang đỗ ở dệ đường, chắn ở giữa đầu xe nâng T đang điều khiển với các tấm Pallet đang xếp ở trên vỉa hè, cản trở việc T tiến xe nâng vào để nâng các tấm Pallet. Thấy vậy, T tắt máy, đỗ chiếc xe nâng ở vị trí chắn ngang giữa lòng đường nội thị băng 2 như nêu trên nhưng không đặt biển cảnh báo để cảnh báo cho người và phương tiện khác biết, rồi xuống xe, đi đến vị trí chiếc xe nâng nhãn hiệu TCM của nhà Hiếu M1 đang đỗ ở dệ đường, điều khiển chiếc xe nâng này ra khỏi vị trí đang đỗ. Khi T đang điều khiển chiếc xe nâng nhãn hiệu TCM nêu trên thì anh Bùi Hoàng N, sinh ngày 02/10/2007, trú tại TDP B, thị trấn T, huyện V (là người chưa đủ 16 tuổi, chưa có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88L1- 382.85 đi ở bên phải đường nội thị băng 2, theo hướng từ UBND thị trấn T đến vị trí chiếc xe nâng T đang đỗ chắn ngang giữa lòng đường. Do N điều khiển xe mô tô đi với tốc độ cao và không nhìn thấy hai thanh nâng hàng của xe nâng nên phần cổ của N đã va chạm vào thanh nâng hàng bên phải của xe nâng mà T đỗ chắn ngang giữa lòng đường, gây tai nạn giao thông làm N bị tử vong và xe mô tô biển kiểm soát 88L1- 382.85 do N điều khiển bị hư hỏng với giá trị thiệt hại là 1.010.000đ.

Hành vi điều khiển xe nâng, nâng tay nâng lên cao so với mặt đất 1,4m rồi đỗ chắn ngang lòng đường nội thị băng 2 thuộc TDP B, thị trấn T nhưng không có tín hiệu, không đặt biển cảnh báo để cảnh báo cho người và phương tiện khác biết của Phan Anh T đã vi phạm điểm a, b, d khoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ.

Khoản 3, Điều 18 Luật giao thông đường bộ quy định:

“3. Người điều khiển phương tiện khi đỗ xe trên đường bộ phải thực hiện quy định sau đây:

  • a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;
  • b) Cho xe ... đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe ... đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình;
  • d) Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết;

Hành vi điều khiển xe nâng tham gia giao thông đường bộ của Phan Anh T khi chưa có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng do cơ sở đào tạo người điều khiển xe máy chuyên dùng cấp, điều khiển xe nâng, nâng tay nâng lên cao so với mặt đất 1,4m rồi đỗ chắn ngang lòng đường nội thị băng 2 thuộc TDP B, thị trấn T nhưng không có tín hiệu, không đặt biển cảnh báo để cảnh báo cho người và phương tiện khác biết đã vi phạm điểm a, b, d khoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả làm anh Bùi Hoàng N bị tử vong như đã nêu trên của Phan Anh T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Điểm a Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • a) Làm chết người;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

  • a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;”

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hậu quả rất nghiêm trọng. Do vậy cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo là người là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa 18 tuổi. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực khắc phục hậu quả, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố bị cáo là người khuyết tật, không có khả năng lao động nên bị cáo phải nghỉ học để đi làm phụ giúp kinh tế gia đình. Đồng thời, trong vụ án này nguyên nhân để dẫn tới vụ tai nạn là do bị hại cũng có một phần lỗi là không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi không có giấy phép lái xe. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng Điều 91 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy chỉ cần xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách với mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ điều kiện, giáo dục bị cáo luôn có ý thức chấp hành pháp luật và sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội

[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Điều 91 Bộ luật hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Đối với anh Bùi Hoàng N trong quá trình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88L1 – 382.85 tham gia giao thông đã không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi không có giấy phép lái xe đã vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G. Tuy nhiên, do N đã tử vong nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với anh Lê Duy H1 và chị Bùi Thị M là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe nâng nhãn hiệu TOYOTA, kiểu loại TFD15, tên thương mại GENEO 15 số khung 7FD18-12946, số động cơ 1DZ0081396 và là người thuê T làm việc cho cửa hàng bán chăn, ga, gối, đệm... nhà mình. Quá trình điều tra xác định, anh H1, chị M không giao và chỉ đạo T điều khiển xe nâng để nâng hàng. Việc T điều khiển xe nâng đỗ chắn ngang lòng đường để nâng hàng dẫn đến gây tai nạn giao thông làm anh N bị tử vong là do T tự ý thực hiện. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh H1 và chị M là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Phan Anh T đã tự nguyện bồi thường tiền mai táng phí, tổn thất tinh thần cho gia đình Bùi Hoàng N3 số tiền 125.000.000đ; anh Lê Duy H1 tự nguyện hỗ trợ mai táng phí và tổn thất tinh thần cho gia đình Bùi Hoàng N số tiền 200.000.000đ. Đại diện theo ủy quyền của gia đình Bùi Hoàng N là ông Nguyễn Văn P (là bác rể của N) đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu ai phải bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Phan Anh T.

Đối với hư hỏng của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88L1 – 382.85, ông Bùi Đình D xin tự khắc phục hậu quả, không yêu cầu ai phải bồi thường gì.

[8] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe nâng nhãn hiệu TOYOTA, kiểu loại TFD15, tên thương mại GENEO 15 số khung 7FD18-12946, số động cơ 1DZ0081396, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Lê Văn H3 và chị Bùi Thị M nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh H3, chị M theo quy định. Nhận lại tài sản, anh H3 không có yêu cầu, đề nghị gì.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88L1 – 382.85, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Bùi Đình D, sinh năm 1957, trú tại TDP N, thị trấn T, huyện V (là ông nội của Bùi Hoàng N). Ngày 25/02/2023, ông D không giao chiếc xe mô tô nêu trên cho N điều khiển mà do N tự ý lấy chiếc xe mô tô này của ông D, rồi sử dụng làm phương tiện tham gia giao thông, dẫn đến gây tai nạn giao thông làm N bị tử vong. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với ông N về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 264 BLHS, đồng thời ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông D chiếc xe mô tô nêu trên là phù hợp. Nhận lại tài sản, ông D không có yêu cầu, đề nghị gì.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phan Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 101; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Anh T 02 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm 06 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phan Anh T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu tổ chức mô cơ thu tại thanh nâng hàng của xe nâng nhãn hiệu TOYOTA, kiểu loại TFD15, tên thương mại G1; mẫu máu thu tại vị trí số 2 tại hiện trường và toàn bộ mẫu trả cùng bao gói do Cơ quan giám định hoàn lại sau giám định.

(Toàn bộ vật chứng tịch thu tiêu hủy của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường ngày 11/8/2023).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Phan Anh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp;
  • - VKS nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKS nhân dân huyện Vĩnh Tường;
  • - CQĐT Công an huyện Vĩnh Tường;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường;
  • - Bị cáo và những người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Việt Xuân, huyện Vĩnh Tường.
  • - Lưu HS, VP, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lương Văn Tuấn

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Anh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger