Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11/6/2024

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Mai.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Vững.
  • Ông Hồ Thị Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thống Nhất - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 11/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 232/2023/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm: 1985

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Anh Đặng Minh L, sinh năm: 1978

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị P và anh L có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh P trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh P quen biết nhau, không có tổ chức đám cưới sống chung với nhau một thời gian. Sau đó, có đăng ký kết hôn, và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 59, cấp ngày 31/12/2005. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn hay có lời qua tiếng lại, làm cho không khí gia đình lúc nào cũng căng thẳng. Do tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên nay chị Nguyễn Thị Thanh P yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Minh L.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên:

  1. Đặng Thị Minh N, sinh ngày 22/4/2003;
  2. Đặng Thị Minh V, sinh ngày 26/01/2009;
  3. Đặng Thị Minh N1, sinh ngày 21/02/2013.

Hiện con chung tên Đặng Thị Minh N đã trưởng thành nên chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng con chung tên Đặng Thị Minh V và Đặng Thị Minh N1 khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và yêu cầu anh L cấp dưỡng 02 con chung tên Đặng Thị Minh V và Đặng Thị Minh N1 theo quy định pháp luật cho đến khi các con trưởng thành.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

- Bị đơn anh Nguyễn Phương L1 trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2005, vợ chồng anh sống chung với nhau một thời gian, sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An. Cuộc sống hôn nhân thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đôi khi vì áp lực cơm áo, gạo tiền nên vợ chồng có cự cải nhưng đều được giải quyết êm đẹp, chứ không mâu thuẫn gì lớn.

Hiện tại, anh còn rất yêu thương vợ và các con, anh mong muốn vợ chồng chung sống đùm bọc, hòa thuận, vui vẻ với nhau để làm tấm gương tốt cho các con và che chở nuôi lớn các con thành người. Anh hoàn toàn chưa làm gì có lỗi với vợ anh.

Vì vậy, anh không đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh P.

Về con chung: Vợ chồng tôi chung sống có 3 người con chung:

  1. Đặng Thị Minh N, sinh ngày 22/4/2003;
  2. Đặng Thị Minh V, sinh ngày 26/01/2009;
  3. Đặng Thị Minh N1, sinh ngày 21/02/2013.

Sau ly hôn, đối với con Đặng Thị Minh N con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau ly hôn, đối với con Đặng Thị Minh V và con Đặng Thị Minh N1, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng tôi được mẹ vợ là bà Nguyễn Thị T tặng cho quyền sử dụng đất có chiều ngang 10m x chiều dài 33m, tổng diện tích 330m² đất tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Hiện do vợ tôi Nguyễn Thị Thanh P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tạm định giá 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).

Đồng thời, trên đất vợ chồng anh có xây dựng 01 căn nhà cấp 4 diện tích 110m² có kết cấu nền gạch, vách tường, mái tol. Tạm định giá 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

Anh P yêu cầu được tiếp tục sử dụng đất và nhà trên. Anh đồng ý hoàn lại 50% giá trị nhà và đất là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) cho chị Nguyễn Thị Thanh P. Nhưng tại phiên hòa giải và tại phiên tòa anh L1 xác định rút lại yêu cầu chia tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng: Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh P, quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh L1 tự tìm hiểu quen biết nhau và sống chung với nhau thời gian sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An, cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 31/12/2005. Sau khi đám cưới vợ chồng sống chung thời gian đầu hạnh phúc, thời gian sau phát sinh mâu thuẩn do chị P đi làm ăn ở S lâu lâu về thăm chồng con, do đó anh L1 ghen tuông có nói nặng nhẹ chị, chị cảm thấy cuộc sống vợ chồng không được tôn trọng. Nay chị P yêu cầu được ly hôn với anh L1.

[3] Đối với, anh L1 trong quá trình giải quyết vụ án anh L1 không đồng ý ly hôn, vì anh cho rằng anh còn thương vợ, thương con không có mâu thuẫn gì. Nhưng xét thấy anh L1 không có giải pháp nào khả quan để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hơn nữa tại phiên tòa chị P cho rằng giữa anh chị có mâu thuẫn trầm trọng, chị cương quyết ly hôn không muốn quay lại.

[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị P. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị P và anh L1 đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không còn tồn tại, không tìm được giải pháp khắc phục để hòa giải hàn gắn tình cảm và mà chọn cách sống ly thân, do vậy cuộc sống hôn nhân của chị P và anh L1 không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P.

[5] Về quan hệ nuôi con chung: có 3 người con chung tên Đặng Thị Minh N, sinh ngày 22/4/2003; Đặng Thị Minh V, sinh ngày 26/01/2009; Đặng Thị Minh N1, sinh ngày 21/02/2013.

Đối với, Đặng Thị Minh N đã trưởng thành chị P và anh L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn Đặng Thị Minh V và Đặng Thị Minh N1, chị P yêu cầu được tiếp tục nuôi và yêu cầu anh L1 cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

Anh L1 cũng có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con và không yêu cầu chị P cấp dưỡng.

Xét thấy, Đặng Thị Minh V sinh ngày 26/01/2009, Đặng Thị Minh N1, sinh ngày 21/02/2013, đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng ở với chị P. Nên tiếp tục giao cho chị P nuôi dưỡng là phù hợp, chị P yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật.

Tại phiên tòa anh L1 cũng đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật là phù hợp nên chấp nhận.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Chị P, anh L1 thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[7] Về nợ chung: Chị P, anh L1 thống nhất không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[8] Về án phí: Chị P, anh L1 phải chịu tiền án phí sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thanh P được ly hôn với anh Đặng Minh L.
  2. Về con chung: Chị P và anh L thống nhất có 03 con chung tên Đặng Thị Minh N, sinh ngày 22/4/2003; Đặng Thị Minh V, sinh ngày 26/01/2009; Đặng Thị Minh N1, sinh ngày 21/02/2013. (Đặng Thị Minh N đã trưởng thành chị P và anh L không yêu cầu giải quyết).

    Con chung Đặng Thị Minh V, sinh ngày 26/01/2009 và Đặng Thị Minh N1, sinh ngày 21/02/2013, chị P được tiếp tục nuôi.

    Anh Đặng Minh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Đặng Thị Minh V, sinh ngày 26/01/2009 và Đặng Thị Minh N1, sinh ngày 21/02/2013 cho mỗi con chung hàng tháng số tiền bằng mức ½ tháng cơ sở cho đến khi Minh V, Minh N1 đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động được. Thời gian bắt đầu tính cấp dưỡng tính từ ngày 11/6/2024.

    Chị Nguyễn Thị Thanh P và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Đặng Minh L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh P phải nộp 300.000đ án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0005715 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười .

    Anh Đặng Minh L phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng sơ thẩm.

  6. Quyền kháng cáo: Các đương được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND Tỉnh ĐT;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án. (M)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 11/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger