|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày 10-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Viết Nguyên.
2. Bà Hoàng Thị Thu.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/HSST-QĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Văn T, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 19/8/1985 tại phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cao Văn M, sinh năm 1963; Con bà: Phùng Thị B, sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T1, sinh năm 1990, có 02 con sinh năm 2012 và 2014; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/11/2018 bị Công an phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo đã nộp tiền phạt ngày 20/11/2018. Lần xử phạt vi phạm hành chính này đã được xóa.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/3/2024 đến ngày 27/3/2024 thì chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cục C (C08), Bộ C1. Vắng mặt.
Địa chỉ: Số A L, quận H, thành phố Hà Nội.
- Ông Nguyễn Quý M1, sinh năm: 1970. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Chung cư N Khu ngoại giao đoàn, phường X, quận B, thành phố Hà Nội.
Nghề nghiệp: Cán bộ Đội tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc số 3 (Đội 3), Phòng 6, Cục C (C08), Bộ C1, địa chỉ: Thôn H, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.
- Ông Võ Nhật T2, sinh năm: 1983. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Phường C, quận N, thành phố Hà Nội.
Nghề nghiệp: Cán bộ Đội tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc số 3 (Đội 3), Phòng 6, Cục C (C08), Bộ C1, địa chỉ: Thôn H, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.
- Ông Vũ Đức A, sinh năm: 1991. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Phường L, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Cán bộ Ban tham mưu, Trung đoàn Cảnh sát cơ động B1 (E26), Bộ, địa chỉ: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1989. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Nghề nghiệp: Cán bộ Ban tham mưu, Trung đoàn Cảnh sát cơ động B1 (E26), Bộ, địa chỉ: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Ông Lê Mai T3, sinh năm: 1989. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Cán bộ Ban tham mưu, Trung đoàn Cảnh sát cơ động B1 (E26), Bộ, địa chỉ: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm: 1985. Có mặt.
Nơi cư trú: Tổ E, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người làm chứng:
Anh Đỗ Văn T5, sinh năm: 1975. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 18/3/2024, Cao Văn T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 88C-020.68 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 88R-008.01 đi vào cao tốc CT01 M - Quốc lộ D theo hướng Thanh Hóa đi Hà Nội tại nút giao thuộc huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa (tuyến đường cấm các loại xe ôtô tải có khối lượng chuyên chở lớn hơn 10 tấn theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ). Tại lối vào cao tốc đã được lắp đặt biển báo cấm số P.106b, chữ số ghi trong biển là “10t”. Lúc này, Tổ cảnh sát giao thông số 3 thuộc Đội tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc số 3 (Đội 3), Phòng 6, Cục C, Bộ C1 gồm 05 đồng chí: Đồng chí Nguyễn Quý M1 (sinh năm 1970) và đồng chí Võ Nhật T2 (sinh năm 1983) là cán bộ Đội 3, Phòng 6, Cục C và các đồng chí Nguyễn Văn L (sinh năm 1989), Vũ Đức A (sinh năm 1991), Lê Mai T3 (sinh năm 1989) là cán bộ Bộ tư lệnh Cảnh sát cơ động, đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông tại Km 327 nút giao vào cao tốc, thì phát hiện xe ô tô của Cao Văn T có vi phạm, do xe của T là loại xe ô tô tải có khối lượng chuyên chở trên 10 tấn. Tổ tuần tra đã ra tín hiệu dừng xe, tuy nhiên T chỉ nói với Tổ tuần tra là “Cho em xin phép” rồi tiếp tục di chuyển, không dừng lại theo tín hiệu dừng xe của Tổ tuần tra. Thấy vậy, đồng chí Võ Nhật T2 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 80A-003.75 cùng đồng chí Nguyễn Văn L đuổi theo và ra tín hiệu bằng loa, gậy chỉ huy giao thông để yêu cầu T dừng lại. T nhận được tín hiệu dừng xe của lực lượng cảnh sát giao thông, nhưng vẫn tiếp tục cho xe di chuyển khoảng 4-5km, đến vị trí có làn dừng khẩn cấp thì dừng xe lại. Sau khi được thông báo lỗi vi phạm và yêu cầu xuất trình giấy tờ xe và giấy phép lái xe để kiểm tra. Tuy nhiên T cho rằng bản thân không vi phạm nên không xuất trình giấy tờ mà tự ý lên xe dời đi khi Tổ tuần tra đang làm việc. Thấy việc T không chấp hành, đồng chí T2 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 80A-003.75 cùng đồng chí Nguyễn Văn L tiếp tục đuổi theo và ra tín hiệu bằng loa, gậy chỉ huy giao thông yêu cầu xe của T dừng lại; đồng thời thông báo cho đồng chí Nguyễn Quý M1 hỗ trợ. Lúc này, đồng chí T2 điều khiển xe ô tô vượt lên xe của T và ra tín hiệu tiếp tục yêu cầu xe của T dừng lại, còn đồng chí M1 điều khiển xe chuyên dụng cảnh sát giao thông biển kiểm soát 80A-027.91 chở theo đồng chí Vũ Đức A và đồng chí Lê Mai T3 đi phía sau để cảnh báo các phương tiện giao thông khác đang đi trên cao tốc. Tiếp tục nhận được hiệu lệnh nhưng T không dừng lại mà vẫn di chuyển trên cao tốc, qua nhiều điểm dừng khẩn cấp, đồng thời điều khiển xe lạng lách nhằm nhiều lần vượt lên xe của Tổ tuần tra, dẫn đến xe đầu kéo do T điều khiển va chạm vào cụm đèn hậu bên trái của xe chuyên dụng biển kiểm soát 80A-003.75 do đồng chí T2 điều khiển, làm cụm đèn bung ra khỏi xe, hư hỏng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đến địa phận xã Đ, huyện Y (K+900), Tổ tuần tra đã áp sát xe của T dừng lại vào làn đường dừng khẩn cấp, đồng chí M1 và các đồng chí đi phía sau đã khống chế T, đồng thời báo cáo đến Công an xã Đ, huyện Y để phối hợp giải quyết.
Quá trình điều tra, Cao Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi chống người thi hành công vụ như đã nêu trên.
Tổ tuần tra đã quay video ghi lại toàn bộ sự việc truy đuổi Cao Văn T trên đường cao tốc cho đến khi xe đầu kéo của T đâm vào đuôi xe của Tổ tuần tra, sau đó giao nộp 04 tệp video (được nén trong 01 đĩa DVD-R) cho cơ quan điều tra. Tại Bản kết luận giám định số 1706/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 04 tệp video của 01 đĩa DVD-R gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 1605/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- Không đủ cơ sở xác định điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.
- Dấu vết tại mặt sau ngoài phần trước ốp nhựa bậc lên xuống bên phải đầu xe đến mặt ngoài đầu mút bên phải ba-đờ-sốc trước và má ngoài lốp trước bên phải tương ứng đầu hàng chữ số “M840” xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 88C-020.68 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 88R-008.01 (ảnh 5 đến 12) phù hợp do va chạm với mặt ngoài ốp nhựa bên trái ba-đờ-sốc sau và mặt ngoài bên trái thùng xe cách mặt sau ba-đờ-sốc sau 39cm xe ô tô biển kiểm soát 80A-003.75 (ảnh 17 đến 22).
- Tại thời điểm xảy ra va chạm, hai xe có hướng cùng chiều.
- Không đủ cơ sở xác định vị trí va chạm trên đường của hai phương tiện.
- Không đủ cơ sở xác định vận tốc của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn.
Cao Văn T đã có hành vi đâm vào cụm đèn hậu bên trái của xe chuyên dụng cảnh sát giao thông biển kiểm soát 80A-003.75. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Y kết luận: Giá trị phần hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát 80A-003.75, nhạn hiệu TOYOTA, loại xe Hilux, đã qua sử dụng (sản xuất năm 2010) tại thời điểm xảy ra sự việc là 950.000 đồng. Giá trị phần hư hỏng của xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 88C-020.68, nhãn hiệu CHENGLONG, xe đã qua sử dụng (sản xuất năm 2012) kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 88R-008.01 tại thời điểm xảy ra sự việc là 150.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án: Khi xảy ra sự việc, Cơ quan điều tra đã tạm giữ các vật chứng sau:
- 01 xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 88C-020.68, nhãn hiệu CHENGLONG, xe đã qua sử dụng, kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 88R-008.01 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn T4, sinh năm: 1985, nơi cư trú: Tổ E, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Kèm theo: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 88C-020.68; 01 Giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc biển kiểm soát 88R-008.01; 01 Giấy phép lái xe số [...] hạng FC của Cao Văn T; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 2100842; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 1701560; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số [...].
- 01 xe ô tô tuần tra cảnh sát giao thông biển kiểm soát 80A-003.75 của Cục C, Bộ C1.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại các phương tiện và giấy tờ kèm theo cho chủ sở hữu theo quy định. Đối với Giấy phép lái xe của Cao Văn T, Cơ quan điều tra đã chuyển đến Cục C đề nghị có biện pháp xử lý hành chính đối với T.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T4 đã nhận lại xe và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Đối với phần giá trị hư hỏng của xe ô tô biển kiểm sát 80A-003.75, bị cáo đã tác động đến gia đình nộp tiền khắc phục hậu quả gây ra theo giá trị định giá (950.000 đồng) vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSYÐ ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố Cao Văn T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Cao Văn T khai nhận hành vi phạm tội chống người thi hành công vụ. Tuy nhiên, bị cáo khai khi vào cao tốc tại nút giao thuộc huyện Đ, bị cáo không biết hiệu lệnh dừng xe của cảnh sát giao thông nên không dừng xe và bị cáo không thừa nhận điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 88C-020.68 đâm vào xe cảnh sát giao thông biển kiểm soát 80A-003.75. Những nội dung còn lại của bản Cáo trạng bị cáo thống nhất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Văn T phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cao Văn T từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/3/2024. Về vật chứng: Đã xử lý xong. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 595 và Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho Cục C, Bộ C1 giá trị hư hỏng của xe ô tô biển kiểm sát 80A-003.75 là 950.000 đồng, được trừ vào số tiền bị cáo đã nộp vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Định. Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.
- Trong phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa bị cáo Cao Văn T thừa nhận hành vi chống người thi hành công vụ: Không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của cảnh sát giao thông, không xuất trình giấy tờ để kiểm tra, điều khiển xe lạng lách, đánh võng trên đường cao tốc. Tuy nhiên, bị cáo khai khi vào cao tốc tại nút giao thuộc huyện Đ, bị cáo không biết hiệu lệnh dừng xe của cảnh sát giao thông nên không dừng xe và bị cáo không thừa nhận điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 88C-020.68 đâm vào xe cảnh sát giao thông biển kiểm soát 80A-003.75.
Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, dữ liệu trong 04 tệp video, kết luận giám định phương tiện xác định điểm va chạm, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 18/3/2024, Cao Văn T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 88C-020.68 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 88R-008.01 đi vào cao tốc CT01 M - Quốc lộ D theo hướng Thanh Hóa đi Hà Nội tại nút giao thuộc huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa, thuộc loại phương tiện có khối lượng chuyên chở trên 10 tấn (theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ) bị cấm lưu thông trên cao tốc này. Khi được các đồng chí Võ Nhật T2, Nguyễn Quý M1 là cán bộ cảnh sát giao thông thuộc Đội 3, Phòng 6, Cục C, Bộ C1 cùng các đồng chí cảnh sát cơ động đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông ra tín hiệu, yêu cầu dừng xe để kiểm tra nhưng bị cáo không dừng mà tiếp tục điều khiển xe đi vào đường cao tốc. Tổ tuần tra đuổi theo và ra tín hiệu yêu cầu dừng xe, nhưng T vẫn tiếp tục cho xe di chuyển khoảng 4-5km, đến vị trí có làn dừng khẩn cấp thì dừng xe lại. Sau khi được Tổ tuần tra thông báo lỗi và yêu cầu xuất trình giấy tờ để kiểm tra, nhưng T không chấp hành và điều khiển xe dời đi. Tiếp tục nhận được hiệu lệnh dừng xe, nhưng T cố tình không dừng mà vẫn di chuyển trên cao tốc, qua nhiều điểm dừng khẩn cấp, đồng thời điều khiển xe lạng lách, đánh võng trên đường, sau đó đâm vào đuôi xe tuần tra cảnh sát giao thông biển kiểm soát 80A-003.75. Sự việc kéo dài từ khoảng 11 giờ đến 12 giờ cùng ngày cho đến khi bị Tổ tuần tra khống chế, Cao Văn T mới dừng xe lại.
Hành vi của bị cáo là hành vi cản trở Tổ cảnh sát giao thông số 3 (Đội 3, Phòng 6, Cục C) thi hành công vụ, đã xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan nhà nước, làm giảm hiệu lực quản lý giao thông của Cục C, Bộ C1. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, HĐXX xét thấy đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố bị cáo theo tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và quan hệ pháp luật xâm phạm: Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; đã tác động gia đình nộp tiền khắc phục hậu quả vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Định, nên bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, HĐXX xét thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[6] Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 88C-020.68, kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 88R-008.01, 02 Giấy chứng nhận đăng ký xe, 02 Giấy chứng nhận kiểm định và 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn T4; đã trả lại xe ô tô tuần tra cảnh sát giao thông biển kiểm soát 80A-003.75 cho Cục C, Bộ C1, là đúng quy định của pháp luật.
Đối với Giấy phép lái xe của bị cáo, Cơ quan điều tra đã chuyển đến Cục C đề nghị có biện pháp xử lý hành chính đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật.
Toàn bộ vật chứng, Cơ quan điều tra đã xử lý xong.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Đối với phần hư hỏng của ô tô đầu kéo, chủ sở hữu xe là anh Nguyễn Văn T4 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với phần hư hỏng của xe ô tô tuần tra cảnh sát giao thông biển kiểm sát 80A-003.75: Buộc bị cáo phải bồi thường cho chủ sở hữu xe là Cục C, Bộ C1 giá trị phần hư hỏng là 950.000 đồng, được trừ vào số tiền 950.000 đồng bị cáo đã nộp vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa theo Biên lai thu tiền số 0001674 ngày 10/5/2024.
[8] Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nhưng đã tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
[9] Về vấn đề khác có liên quan đến vụ án:
Đối với hành vi điều khiển xe đi vào đường cấm của bị cáo Cao Văn T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã chuyển hồ sơ đề nghị Phòng 6, Cục C, Bộ C1 đề nghị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Cao Văn T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Xử phạt bị cáo Cao Văn T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18/3/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Cao Văn T phải bồi thường cho Cục C, Bộ C1 giá trị phần hư hỏng của xe ô tô tuần tra cảnh sát giao thông biển kiểm sát 80A-003.75 là 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng), được trừ vào số tiền 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng) bị cáo đã nộp vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa theo Biên lai thu tiền số 0001674 ngày 10/5/2024.
- Về án phí: Buộc bị cáo Cao Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Dung |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về hình sự về tội chống người thi hành công vụ
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Chống người thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử Cao Văn T phạm tội chống người thi hành công vụ
