|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:54/2024/HS-ST Ngày 16 – 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lèo Văn Hưởng; Bà Lò Thị Kim
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Anh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Dương – Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu Nhà tạm giữ - Công an thành phố S:
Thư ký: Ông Đào Ngọc S - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 05/04/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST- HS 05/04/2024 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Thanh T (tên gọi khác: Không); sinh ngày 19/01/1984 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Hữu T1 và con bà: Trần Thị Thái H; Bị cáo có vợ là Nguyễn Mai H1; bị cáo có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Lò Chí T2 (tên gọi khác: Không); sinh ngày 17/12/1995 tại thành phố S, Sơn La. Nơi cư trú: Tổ I, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Lò Văn L và con bà Lò Thị M; Bị cáo có vợ là Lò Thị P, sinh năm 2001; bị cáo có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 05/11/2020 và chấp hành xong án phí toà án
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lò Thị P, sinh năm 2001; Cư trú tại: Tổ I, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 30 phút ngày 02/01/2024, khi đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu trắng - đen - bạc, biển kiểm soát 26B2-865.75 tại khu vực tổ D, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La, Lò Văn T3 đã bị tổ Công tác công an phường Q, thành phố S làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang hành vi tang trữ 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 01 gói nilon nhiều màu sắc, mở gói nilon nhiều màu sắc có 01 gói giấy bạc, bên trong chứa 02 viên nén màu hồng đồng dạng (T3 khai nhận là ma túy hồng phiến mua của Nguyễn Thanh T, hay còn gọi là “Tùng T4” tại nhà của T ở tổ A, phường Q, thành phố S với mục đích cất giữ để sử dụng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Chí T2, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của T2: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu trắng - đen - bạc, biển kiểm soát 26B2-865.75, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu vàng.
Lời khai ban đầu T2 khai nhận số ma tuý bị cáo mua của Nguyễn Thanh T với số tiền 300.000đ được 3 viên hồng phiến, bị cáo đã sử dụng 1 viên, còn lại 2 viên thì bị bắt quả tang. Căn cứ vào lời khai của T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã triệu tập để làm việc với Nguyễn Thanh T, sinh năm 1984, cư trú tại tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. T thừa nhận hành vi đã bán ma túy cho T2 để kiếm lợi nhuận. Đồng thời cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S khám xét và thu giữ tại nơi ở của T: 01 gói giấy bạc bên trong có 09 viên nén màu hồng (T khai là ma túy hồng phiến, cất giấu để bán kiếm lợi nhuận); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu hồng; số tiền 300.000VNĐ (xác định là tiền T bán ma tuý cho T2).
Ngày 03/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố S thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Lò Chí T2 và Nguyễn Thanh T, kết quả:
- - 02 viên nén màu hồng đồng dạng trong gói giấy bạc thu giữ của Lò Chí T2 có khối lượng 0,20 gam, lấy 01 viên có khối lượng 0,10 gam làm mẫu giám định, ký hiệu T1, còn lại 01 viên khối lượng 0,10 gam làm mẫu lưu kho, ký hiệu T2.
- - 09 viên nén màu hồng đồng dạng trong gói giấy bạc thu giữ của Nguyễn Thanh T có khối lượng 0,88 gam, lấy 04 viên có khối lượng 0,39 gam làm mẫu giám định, ký hiệu T3, còn lại 04 viên khối lượng 0,49 gam làm mẫu lưu kho, ký hiệu T4.
Ngày 02/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S ra Quyết định số 03/QĐ-ĐCSKT-MT trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh S giám định chất ma túy đối với vật chứng thu giữ. Tại Kết luận giám định số 208/KL-KTHS ngày 04/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu T1, T3 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là T1 = 0,10 gam, T3 = 0,39 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,08 gam; loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Tại bản Cáo trạng số: 79/CT-VKSTP ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Lò Chí T2 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, các bị cáo trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lò Thị P (vợ của bị cáo T2) có ý kiến xin lại tài sản xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu trắng - đen - bạc, biển kiểm soát 26B2-865.75 vì đó là tài sản của mình. Việc T2 sử dụng chiếc xe trên đi thực hiện hành vi phạm tội, chị P không biết và không tham gia.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo Lò Chí T2 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với các bị cáo như sau:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thanh T từ 36 ( ba mươi sáu) đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lò Chí T2 từ 14 (mười bốn) đến 18 (mười tám) tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
- - Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điêm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon nhiều màu sắc; 02 mảnh giấy bạc mầu trắng vàng; Mẫu lưu kho ký hiệu T2 = 0,10 gam; Mẫu lưu kho ký hiệu T4 = 0,49 gam (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 086175 của Công an thành phố S).
Tịch thu sung công quỹ: số tiền 300.000 VNĐ (ba trăm nghìn đồng);01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu vàng, loại màn hình cảm ứng, số IMEI 35333807292662 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu hồng, có số IMEI có 07 số cuối là 0454367, đã qua sử dụng.
Trả lại cho chị Lò Thị P 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu trắng - đen - bạc, biển kiểm soát 26B2-865.75, số khung: RLHJK 0301NY045192; số máy: JK03E0115827, xe đã qua sử dụng.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T, Lò Chí T2 khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thanh T và Lò Chí T2 đã khai nhận:
Ngày 02/01/2024 Nguyễn Thanh T đã có hành vi bán trái phép 03 viên ma túy cho Lò Chí T2 đề lấy 300.000đ. Lò Chí T2 đã có hành vi mua phép 03 viên hồng phiến của Nguyễn Thanh T với mục đích sử dụng cho bản thân, sau khi mua được ma túy T2 đã sử dụng hết 01 viên trên đường đi về, 02 viên còn lại cất giấu vào túi áo khoác đang mặc và đi về thì bị tổ công tác Công an phường Q, thành phố S phát hiện, bắt quả tang. Ngoài số lượng ma túy bị bắt quả tang của Lò Chí T2, sau khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thanh T thì phát hiện và thu giữ 09 viên nén màu hồng đồng dạng trong gói giấy bạc có khối lượng 0,88 gam (T khai là ma túy dạng hồng phiến, T cất giấu để bán kiếm lợi nhuận).
Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với các chứng cứ:
- - Bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với các bị cáo;
- - Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 35 phút, ngày 02/01/2024, tại khu vực vực tổ D, phường Q, thành phố S đối với Lò Chí T2 cùng vật chứng thu giữ trong vụ án.
- - Biên bản làm việc kiểm tra phương tiện giao thông; Biên bản làm việc kiểm tra nội dung trong điện thoại; Biên bản khám xét khẩn cấp; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 208/KL-KTHS ngày 04/01/2024; Kết luận giám định số 256/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S.
Và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Các bị cáo đều có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết rõ việc tang trữ, mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Bị cáo Nguyễn Thanh T có hành vi bán trái phép cho bị cáo Lò Chí T2 03 viên hồng phiến và tàng trữ 09 viên hồng phiến (có trọng lượng 0,88gam) nhằm mục đích bán kiếm lời nên hành vi của Nguyễn Thanh T đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số lượng ma tuý thu giữ khi bắt quả tang Lò Chí T2 và khi khám xét chỗ ở của bị cáo là 1.08gam.
Bị cáo Lò Chí T2 có hành vi tang trữ 0,2gam hồng phiến mục đích để sử dụng đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:
[3.1] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng do lỗi cố ý.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo tại giai đoạn điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay đều có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo Lò Chí T2 khi bị bắt quả tang đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra phát hiện tội phạm, khai báo hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh T. Do vậy bị cáo T2 còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
[3.4] Về nhân thân: Bị cáo Lò Chí T2 có nhân thân xấu: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 05/11/2020 và chấp hành xong án phí toà án. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, bị cáo đã orc xóa án tích.
Từ những đánh giá và nhận định nêu trên, HĐXX thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Thanh T chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma tuý là 1,08gam methamphetamine, chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, có 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự do vậy cần chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T mức án 36 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo Lò Chí T2 mặc dù có nhân thân xấu, tuy nhiên khối lượng ma tuý bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,2gam (ở mức khởi điểm của khung hình phạt), có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần xem xét xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đặc điểm nhân thân của bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Các bị cáo đều là đối tượng nghiện chất ma túy, bản thân không có công việc và thu nhập ổn định và không có tài sản gì có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về nguồn gốc 1,08 gam Methamphetamine bị thu giữ, bị cáo T khai mua của một người nam giới nhưng không biết họ, tuổi và địa chỉ ở đâu vào ngày 02/01/2024, tại khu vực tổ A, phường Q, thành phố S. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
[6] Về vật chứng của vụ án gồm có:
- - 02 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon nhiều màu sắc; 02 mảnh giấy bạc mầu trắng vàng; Mẫu lưu kho ký hiệu T2 = 0,10 gam; Mẫu lưu kho ký hiệu T4 = 0,49 gam (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 086175 của Công an thành phố S). Xét thấy là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tuyên tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- - Đối với vật chứng là số tiền 300.000 VNĐ (ba trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu hồng, có số IMEI có 07 số cuối là 0454367, đã qua sử dụng thu gữi của bị cáo Nguyễn Thanh T, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu vàng, loại màn hình cảm ứng, số IMEI 35333807292662 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Lò Chí T2;. Xét thấy vật chứng là tài sản bị cáo có được do phạm tội và công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý, do đó cần tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- - Đối với sim điện thoại mạng di động Viettel số thuê bao 0972.541.xxx và 01 sim điện thoại Mobifone số thuê bao 0931.408.876 (gắn trong 2 điện thoại di động là số điện thoại cá nhân của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu trắng - đen - bạc, biển kiểm soát 26B2-865.75, xe đã qua sử dụng, đăng ký xe mang tên Lò Thị P. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này là tài sản riêng của chị Lò Thị P (vợ bị can). Ngày 02/01/2024, bị cáo Lò Chí T2 sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội, chị P1 không biết và không tham gia. Cần tuyên trả lại cho chị Lò Thị P theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
[7] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa dổi bổ sung 2017
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 02/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017
Tuyên bố: Bị cáo Lò Chí T2 phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Chí T2 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 02/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon nhiều màu sắc; 02 mảnh giấy bạc mầu trắng vàng; Mẫu lưu kho ký hiệu T2 = 0,10 gam; Mẫu lưu kho ký hiệu T4 = 0,49 gam (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 086175 của Công an thành phố S). 01 sim điện thoại mạng di động Viettel số thuê bao 0972.541.xxx (được gắn trong điện thoại di động Iphonemàu vàng) và 01 sim điện thoại Mobifone số thuê bao 0931.408.876 (được gắn trong điện thoại di động IphonePlus màu hồng)
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 300.000VNĐ, gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000VNĐ có mã ký hiệu IM 11764557 và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000VNÐ có mã ký hiệu WJ 20836931 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu vàng, loại màn hình cảm ứng, số IMEI 35333807292662 đã qua sử dụng thu giữ của Lò Chí T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu hồng, có số IMEI có 07 số cuối là 0454367, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thanh T.
Trả lại cho chị Lò Thị P: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu trắng - đen - bạc, biển kiểm soát 26B2-865.75, xe đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/04/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc các bị cáo Nguyễn Thanh T, Lò Chí T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/4/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Phạm Thị Thanh Nga |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 54. nguyễn Thanh T + Lò chí T Tàng trữ trái phép chất ma túy
