Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10 tháng 6 năm 2024

V/v: Tranh chấp Hôn nhân và

gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Len và bà Nguyễn Thị Thêu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXX-ST ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1992
  2. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; nơi ở hiện nay: Hàn Quốc. Có đơn xin vắng mặt.

  3. Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1984.
  4. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; nơi ở hiện nay: Hàn Quốc. Có đơn xin vắng mặt.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị H, sinh năm 1967; nơi cư trú: Xóm F, xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An (mẹ đẻ chị Nguyễn Thị N). Có đơn xin vắng mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 19/6/2015. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chỉ chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Cho đến thời điểm hiện tại thì mâu thuẫn đã ngày càng trở nên căng thẳng. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc chị N và anh T bất đồng quan điểm sống, tính cách của hai vợ chồng không thể hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung. Tháng 10/2017, anh Phạm Văn T xuất cảnh đi lao động tại Hàn Quốc, kể từ đó đến nay, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng hơn và không thể hóa giải mặc dù hai vợ chồng đã nhiều lần cố gắng nói chuyện để hàn gắn. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
    2. Về con chung: Chị N và anh T có 01 con chung là Phạm Thị Vân N1, sinh ngày 02/07/2014. Hiện nay cháu N1 đang sống cùng bà ngoại là bà Trần Thị H, trú tại xóm F, xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Ly hôn, chị N đề nghị được trực tiếp nuôi cháu N1. Trong thời gian chị N làm việc ở nước ngoài, chị ủy quyền cho mẹ chị là bà Trần Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N1 cho đến khi chị H về nước. Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
    3. Về tài sản chung: Chị N tự thỏa thuận giải quyết với anh T về tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Bà Đinh Thị C là mẹ đẻ của anh Phạm Văn T trình bày: Bà C đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình và thông báo cho con trai bà là anh Phạm Văn T, bà và anh T có ý kiến như sau:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị N tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 19/6/2015. Sau khi kết hôn, chị N và anh T chung sống cùng vợ chồng bà tại xã Đ được một thời gian. Năm 2017, anh T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Trong thời gian anh T đi lao động ở nước ngoài, chị N và anh T phát sinh mâu thuẫn. Mặc dù gia đình bà đã nhiều lần hòa giải để hai vợ chồng hàn gắn nhưng mâu thuẫn giữa chị N và anh T không thể hóa giải mà còn ngày càng trầm trọng hơn. Nay chị N yêu cầu ly hôn, anh T đồng ý.
    2. Bà Đinh Thị C trình bày: Anh T vì điều kiện ở xa không thể về trực tiếp giải quyết việc ly hôn với chị N nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình giải quyết vắng mặt anh. Anh T cũng đề nghị Tòa án gửi các văn bản tố tụng, các quyết định, bản án của Tòa án về cho bà để bà thông báo lại cho anh T.

    3. Về con chung: Chị N và anh T có 01 con chung là Phạm Thị Vân N1, sinh ngày 02/07/2014. Hiện nay cháu N1 đang sống cùng bà ngoại là bà Trần Thị H. Ly hôn, chị N đề nghị được trực tiếp nuôi cháu N1 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, anh T đồng ý với yêu cầu của chị N.
    4. Về tài sản chung: Vợ chồng anh T tự giải quyết về tài sản nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Cháu Phạm Thị Vân N1, sinh ngày 02/07/2014 là con chung của chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Văn T trình bày: Hiện tại cháu N1 đang sống cùng bà ngoại là Trần Thị H. Bố mẹ ly hôn, cháu N1 đề nghị được sống cùng với mẹ. Trong thời gian mẹ lao động ở nước ngoài, cháu sẽ tiếp tục sống với bà ngoại đến khi mẹ cháu về nước.
  4. Bà Trần Thị H là mẹ đẻ của chị Phạm Thị N2 trình bày: Hiện cháu N1 đang sống cùng bà. Bà là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N1 từ khi mẹ cháu đi lao động ở nước ngoài cho đến giờ. Sau khi chị N2 và anh T ly hôn, bà tình nguyện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N1 cho đến khi mẹ cháu về nước. Bà cam kết sẽ nghiêm túc nuôi dạy cháu tử tế, tạo mọi điều kiện thuận lợi để cháu có cuộc sống tốt nhất, được ăn uống, sinh hoạt, học tập đầy đủ.
  5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều tuân thủ theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Phạm Văn T. Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Vân N1, sinh ngày 02/7/2014 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chấp nhận việc chị Nguyễn Thị N ủy quyền cho bà Trần Thị H thay chị N chăm sóc cháu Phạm Thị Vân N1 trong thời gian chị N lao động ở nước ngoài. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết. Chị N phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

4

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Văn T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt chị N, anh T là đúng quy định pháp luật.
  2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N và bị đơn là anh Phạm Văn T hiện đang ở Hàn Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình theo khoản 3 Điều 35 và Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
  3. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Văn T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 19/6/2015 nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Chị N và anh T đều thống nhất trình bày về hoàn cảnh kết hôn và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng. Nay cả anh T và chị N đều xác định mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, kéo dài, không thể hàn gắn, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên chị N xin ly hôn anh T thì anh T đồng ý. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống hôn nhân của chị N và anh T không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị N ly hôn anh T là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
    2. Về con chung: Chị N và anh T có 01 con chung là Phạm Thị Vân N1, sinh ngày 02/07/2014. Ly hôn, chị N đề nghị được trực tiếp nuôi cháu N1, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Trong thời gian chị N làm việc ở nước ngoài, chị ủy quyền cho mẹ chị là bà Trần Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N1 cho đến khi chị N về nước, bà H đồng ý. Anh T cũng đồng ý về yêu cầu giải quyết nuôi con chung của chị N. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần giao con chung là cháu Phạm Thị Vân N1 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị N đi xuất khẩu lao động, theo sự uỷ quyền của chị N thì cháu N1 do bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Về tài sản chung: Chị N và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
  5. Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

5

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Phạm Văn T.
  2. Về con chung: Xử cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Phạm Thị Vân N1, sinh ngày 02/07/2014. Chấp nhận việc chị Nguyễn Thị N ủy quyền cho bà Trần Thị H thay chị N chăm sóc cháu Phạm Thị Vân N1 trong thời gian chị N lao động ở nước ngoài. Anh Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N. Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Chị N, anh T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung khi cần thiết.
  3. Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền chị N đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0000134 ngày 26 tháng 3 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Nguyễn Thị N.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Độc Lập;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Nga - Phạm Văn Tư ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger