|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 54/2024/HS-ST
Ngày: 10-05-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Cao
- Bà Nguyễn Thị Hưởng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Tấn C, tên gọi khác: Không, sinh ngày 12/01/1991, tại tỉnh Long An;
Nơi cư trú: Ấp H, xã D, huyện C, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Tấn Đ và bà Nguyễn Thị L; vợ Lê Thị Kim C1 và có 03 người con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị khởi tố tại ngoại điều tra. (có mặt);
- Bị hại: Nguyễn Thị T, sinh năm 1976
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1953 (vắng mặt); Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, thị xã N, tỉnh Sóc trăng (Theo văn bản ủy quyền ngày 26/01/2024)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Nguyễn Văn L1, sinh năm 1980. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Mỹ Thành, xã Mỹ Quới, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc trăng
2. Hồ Thị Thu T1, sinh năm 1980. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Bình Thọ, xã Bình Phục Nhứt, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang
3. Công ty Cổ phần Đ1 Mê Kông
Địa chỉ trụ sở: Tầng B, Tòa nhà L, F M, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn S – Tổng Giám đốc.
Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng Trọng N, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: H H, phường C, Tp., tỉnh Long An
(Văn bản ủy quyền số 1522/GUQ-MK ngày 24/10/2023).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Tấn C có giấy phép lái xe hạng C là nhân viên lái xe cho Công ty Cổ phần Đ1 (Công ty). Ngày 24/10/2023, ông Nguyễn Hoàng Trọng N đại diện Công ty điều động C điều khiển xe ô tô tải trộn bê tông biển số 50H-002.71 từ Thành phố Hồ Chí Minh (TP .) về trạm trộn bê tông Mê Kông ở Khu công nghiệp N, huyện B. Khoảng 07 giờ 02 phút cùng này, khi C điều khiển xe ô tô tải trộn bê tông biển số 50H-002.71 lưu thông trên Quốc lộ A hướng TP . đi tỉnh Tiền Giang, khi đến Km 1925+700m Quốc lộ A thuộc Ấp E, xã M, huyện B, lúc này trời nắng, mặt đường trải nhựa, khô ráo, bằng phẳng, giữa trung tim đường có dải phân cách cố định phân chia hai phần đường xe chạy. Phần đường TP . đi tỉnh Tiền Giang có vạch sơn đứt quãng phân chia 03 làn đường xe chạy, làn đường sát dải phân cách rộng 3,5m, làn đường chính giữa rộng 3,4m và làn đường bên phải rộng 2,2m. Đỗ Tấn C điều khiển xe biển số 50H-002.71 lưu thông trên làn đường sát dải phân cách, tốc độ khoảng 45km/h. Phía trước cùng chiều có xe ô tô đầu kéo, kéo theo sơ mi rơ mooc (không xác định biển số) lưu thông chậm, C mở đèn tín hiệu bên phải thấy an toàn cho xe chuyển hướng sang làn đường giữa vượt qua xe ô tô đầu kéo, C không chú ý làn giữa phía trước cùng chiều có xe mô tô biển số 63B4-102.16 do Nguyễn Văn L1 điều khiển chở sau chị Nguyễn Thị T, khi C cho xe ô tô tải trộn bê tông 50H-002.71 vượt sang làn đường giữa làm mặt ngoài bánh xe trước bên phải của xe 50H-002.71 va đụng vào gương chiếu hậu bên trái, tay cầm lái bên trái và tay thắng bên trái của xe mô tô biển số 63B4-102.16, dẫn đến xe mô tô biển số 63B4-102.16 mất thăng, làm người và xe té ngã trên đường, Trang bị bị bánh xe ô tô tải trộn bê tông
50H-002.71 cán qua chân trái, còn xe mô tô biển số 63B4-102.16 ngã sang trái cày trên đường một đoạn 10m dừng lại, chị T bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện C2, TP . đến ngày 08/12/2023 xuất viện, còn anh L1 bị xây xát nhẹ, từ chối giám định, tự điều trị tại nhà.
Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường lập hồi 07 giờ 30 phút ngày 24/10/2023 tại Km 1925+700m Quốc lộ A, Ấp E, xã M, huyện B Đoạn đường có dải phân cách cứng cố định; mặt đường bê tông nhựa khô, phẳng tầm nhìn không bị hạn chế. Trục đường thẳng, mặt đường bê tông nhựa được phân chia thành 03 làn đường rộng, lần lượt là, làn đường trong cùng liền kề mép lề phải rộng 02m20; làn giữa rộng 3m40, làn đường ngoài cùng rộng 3m50.
Lấy trụ đèn số 20 bên phải làm điểm mốc cố định. Lấy mép đường bên phải theo chiều TP H - Tiền Giang làm lề chuẩn
Trên Quốc lộ A theo hướng TP H - Tiền Giang các dấu vết phương tiện được đo vào lề chuẩn:
- Vị trí vết cày (ký hiệu 1) để lại trên mặt đường dài 10m, đầu vết cày cách lề chuẩn 2m70, cách mốc 21m50, cuối vết cày ngay đầu cần khởi động máy
- Vị trí vết máu (ký hiệu 2) để lại trên mặt đường kích thước 50x54cm, có tâm cách lề chuẩn 3m10
- Vị trí xe mô tô biển số 63B4-102.16 (ký hiệu 3) ngã qua trái trên mặt đường tâm trục bánh xe trước cách lề chuẩn 0m70, tâm trục bánh xe sau, cách lề chuẩn 2m, cách tâm 2 là 1m40
- Vị trí xe ô tô tải 50H-002.71 (ký hiệu 4) đổ trên mặt đường đầu xe hướng Tiền Giang. T2 trục bánh xe trước bên phải cách lề chuẩn là 0m20 và cách tâm trục bánh xe trước xe (3) bên phải 47m
Biên bản khám phương tiện xe mô tô biển số 63B4-102.16 thể hiện: Đầu tay thắng bên trái để lại vết xước 01cmx0,8cm; Cạnh bên trái mặt nạ trước để lại vết mài mòn kích thước 18x04cm; Đầu cần khởi động máy để lại vết mài mòn kích thước 1,5cmx01cm.
Biên bản khám phương tiện xe ô tô biển số 50H-002.71 thể hiện: Mặt ngoài vỏ bánh xe trước bên phải để lại vết xước kích thước 26 x 01cm đầu gần nhất và cách tâm chữ G 32cm, cách tâm trục bánh xe là 41cm; Mặt ngoài vỏ bánh xe trước bên phải để lại vết xước kích thước 34x28cm có tâm cách tâm chữ M 54cm, cách trục bánh xe 46cm; Mặt tiếp xúc đất bánh ngoài phí sau cùng bên phải có vết dính máu kích thước 24cmx22cm điểm gần nhất cách tâm chữ M là 22cm, cách tâm trục bánh xe 56cm.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 38/KLTTCT-TTPY ngày 06/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L, giám định và kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị T tại thời điểm giám định là 94% áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện B có tạm giữ:
- - 01 xe ô tô biển số 50H-002.71; 01 kiểm định; 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe thuộc sở hữu Công ty Cổ phần Đ1 M, hiện đã trả cho Nguyễn Hoàng Trọng N là đại diện ủy quyền Công ty.
- - 01 xe mô tô biển số 63B4-102.16 bị hư hỏng do tai nạn, 01 giấy đăng ký xe tên Hồ Thị Thu T1, T1 bán xe cho L1 không làm thủ tục sang tên, hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện B trả xe cho chủ sở hữu Nguyễn Văn L1.
- - 01 giấy phép lái xe hạng C tên Đỗ Tấn C (hiện Chi cục thi hành án dân sự đang tạm giữ)
Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKSBL ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An truy tố bị cáo Đỗ Tấn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Tấn C hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo Đỗ Tấn C về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Tấn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Tấn C từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 02 năm đến 03 năm, thời hạn thử thách
tính từ ngày tuyên án. Ngoài ra không đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Tấn C.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Đỗ Tấn C 01 giấy phép lái xe hạng C tên Đỗ Tấn C (hiện Chi cục thi hành án dân sự đang tạm giữ)
- - 01 xe ô tô biển số 50H-002.71; 01 kiểm định; 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe thuộc sở hữu Công ty Cổ phần Đ1 M, hiện đã trả cho Nguyễn Hoàng Trọng N là đại diện ủy quyền Công ty nên không đề nghị xem xét.
- - 01 xe mô tô biển số 63B4-102.16 bị hư hỏng do tai nạn, 01 giấy đăng ký xe tên Hồ Thị Thu T1, T1 bán xe cho L1 không làm thủ tục sang tên, hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện B trả xe cho chủ sở hữu Nguyễn Văn L1 nên không đề nghị xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, Đỗ Tấn C đã bồi thường chi phí điều trị thương tích và tổn thất tinh thần cho chị Nguyễn Thị T số tiền 360.000.000đ, chi phí sửa xe 63B4-102.16 và điều trị thương tích cho anh Nguyễn Văn L1, số tiền 500.000 đồng, ông Nguyễn Văn H (cha ruột của T), ông Nguyễn Văn L1 đã nhận đủ tiền và không yêu bồi thường gì thêm nên không đề nghị xem xét
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Tấn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, bản ảnh hiện trường, Bản kết luận giám định tổ thương cơ thể trên người sống số 38/KLTTCT-TTPY ngày 06/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 07 giờ 02 phút ngày 24/10/2023, bị cáo Đỗ Tấn C có giấy phép lái xe hạng C điều khiển xe ô tô tải trộn bê tông biển số 50H-002.71 lưu thông trên đường Q hướng từ TP . về tỉnh Tiền Giang. Khi đến Km 1925+700m Quốc lộ A, Ấp E, xã M, huyện B, bị cáo C không chú ý quan sát cho xe vượt qua đuôi xe ô tô đầu kéo phía trước cùng chiều không đảm bảo an toàn dẫn đến phần mặt ngoài bánh xe trước bên phải xe 50H-002.71 va đụng vào gương chiếu hậu, tay cầm lái và tay thắng bên tay trái của xe mô tô biển số 63B4-102.16 do anh Nguyễn Văn L1 điều khiển chở sau chị Nguyễn Thị T lưu thông cùng chiều phía trước. Hậu quả, chị T bị bánh xe bên phải xe ô tô tải trộn bê tông 50H-002.71 cán qua chân trái, thương tích 94%.
Hành vi của bị cáo Đỗ Tấn C đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 và khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ và hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo biết và pháp luật buộc bị cáo phải biết khi tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân theo các quy định về luật giao thông đường bộ. Thế nhưng trong lúc điều khiển xe ô tô tải biển số 50H-002.71 đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, bị cáo không chú ý quan sát cho xe vượt qua đuôi xe ô tô đầu kéo phía trước cùng chiều không đảm bảo an toàn dẫn đến gây tai nạn cho anh Nguyễn Văn L1 điều khiển xe mô tô biển số 63B4-102.16 chở sau chị Nguyễn Thị T làm cho chị T bị thương với tỷ lệ 94%, anh L1 bị thương tích nhẹ mà còn ảnh hưởng đến an toàn, trật tự công cộng.
Hành vi của bị cáo Đỗ Tấn C đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An truy tố bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi của bị cáo Đỗ Tấn C cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp tương xứng mức độ hành vi mà bị cáo gây ra mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đỗ Tấn C phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Đỗ Tấn C có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có thời gian tham gia quân đội. Hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
[4]. Xét thấy bị cáo Đỗ Tấn C có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; do đó việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Tấn C còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, xét thấy hành vi vi phạm tội của bị cáo không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Đỗ Tấn C là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Trả lại cho bị cáo Đỗ Tấn C 01 giấy phép lái xe hạng C tên Đỗ Tấn C
- - 01 xe ô tô biển số 50H-002.71; 01 kiểm định; 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe thuộc sở hữu Công ty Cổ phần Đ1 M, hiện đã trả cho Nguyễn Hoàng Trọng N là đại diện ủy quyền Công ty nên không xem xét.
- - 01 xe mô tô biển số 63B4-102.16 bị hư hỏng do tai nạn, 01 giấy đăng ký xe tên Hồ Thị Thu T1, T1 bán xe cho L1 không làm thủ tục sang tên, hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện B trả xe cho chủ sở hữu Nguyễn Văn L1 nên không xem xét.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đỗ Tấn C đã bồi thường chi phí điều trị thương tích và tổn thất tinh thần cho chị Nguyễn Thị T số tiền 360.000.000đ, chi phí sửa xe 63B4-102.16 và điều trị thương tích cho anh Nguyễn Văn L1, số tiền 500.000 đồng, ông Nguyễn Văn H (cha ruột của T), ông Nguyễn Văn L1 đã nhận đủ tiền và không yêu bồi thường gì thêm nên không xem xét
[9]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đỗ Tấn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Tấn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Tấn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 10/5/2024).
Giao bị cáo Đỗ Tấn C về Ủy ban nhân dân xã D, huyện C, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Đỗ Tấn C có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Đỗ Tấn C thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Đỗ Tấn C 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh L cấp ngày 12/10/2021 có giá trị đến ngày 12/10/2026.
(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/4/2024).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đỗ Tấn C nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- - TAND, VKSND tỉnh Long An;
- - VKSND huyện Bến Lức;
- - Sở Tư pháp Long An;
- - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Bến Lức;
- - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện Bến Lức;
- - Bị cáo; đại diện hợp pháp bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- - Lưu hồ sơ.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Cao Nguyễn Thị Hưởng |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Nga |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Tấn Công "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
