Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày: 09-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nhất Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Trọng Thiện

2/ Ông Đinh Hoàng Việt

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 09/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 14/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 15/4/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng P; sinh năm 1994 tại thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: số 7/135/21 Nguyễn Ngọc L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Cha: Không rõ, con bà Nguyễn Thị N, Chưa có vợ con;

Tiền án:

  • + Ngày 21/03/2017 “Trộm cắp tài sản”, bị Toà án nhân dân Quận 11 xử phạt 09 tháng tù giam theo Bản án số 61/2017/HSST ngày 26/7/2017; Nguyễn Hoàng P kháng cáo; Ngày 28/9/2017 Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh tuyên y án sơ thẩm xử phúc thẩm theo Bản án số 554/2017/HSPT; Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/12/2017. Ngày 15/8/2022 chấp hành án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm.
  • + Ngày 17/5/2022 “Trộm cắp tài sản”, bị Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam, theo Bản án số 65/2022/HSST ngày 14/9/2022; Bị cáo chấp hành án đến ngày 17/11/2023; Bị cáo chưa thi hành hình phạt tiền, chưa đóng án phí.

Tiền sự: Ngày 27/10/2016, bị Công an P1, Quận E, TP . bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản” và ra Quyết định xử phạt hành chính số 0029311/QĐ-XPHC ngày 22/12/2017, phạt số tiền 1.500.000 đồng. Kết quả xác minh, bị cáo P chưa đóng phạt.

Bị bắt tạm giam từ ngày 13/01/2024 (Có mặt)

- Bị hại: Anh Đinh Hoài N1, sinh năm: 1996 (Vắng mặt)

Địa chỉ: chung cư C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 13/01/2024, Nguyễn Hoàng P điều khiển xe mô tô biển số 52U4-5177 chạy lòng vòng trên đường, mục đích tìm tài sản để chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến tiệm I, số G T, Phường A, Quận A, P dựng xe bên ngoài rồi đi vào trong tìm tài sản. Khi lên đến lầu 2, P thấy anh Đinh Hoài N1 đang ngủ, trên bàn phím máy tính có để chiếc điện thoại di động hiệu Iphone SE đang sạc pin. P lén lút đến lấy điện thoại của anh N1 bỏ vào túi quần rồi đi xuống lầu để tẩu thoát. Toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản của P đều được anh Đỗ Hoàng Ngọc A, là quản lý tiệm Internet, phát hiện qua quan sát camera giám sát của tiệm. Khi P đi bộ xuống ra đến cửa thì bị anh Ngọc A và anh Nguyễn Chí V bắt giữ, thông báo cho anh N1 giải giao P cùng vật chứng cho Công an P2 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P2 xử lý.

Theo Kết luận định giá tài sản số 183/KL-HĐĐGTS ngày 24/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận A1 xác định tại thời điểm bị chiếm đoạt, chiếc điện thoại di động hiệu Iphone SE màu trắng bạc có trị giá 1.000.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P2, bị can Nguyễn Hoàng P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Lời khai nhận tội của bị can P phù hợp với lời khai của các bị hại, nhân chứng, biên bản kiểm tra camera, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone SE màu trắng bạc là tài sản bị chiếm đoạt. Bị hại Đinh Hoài N1 đã được nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
  • - 01 áo sơ mi trắng dài tay, 01quần Jeans dài màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen, cam - là trang phục bị can P mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Levin màu đen, biển số 52U4-5177; Số khung: UM-003476; Số máy: FMHR-003476. Qua giám định có số khung, số máy không đổi. Xác minh xe do bà Nguyễn Thị H (là dì của bị can P) đứng tên đăng ký sở hữu. Bà H cho P mượn xe để chạy xe ôm. Việc P sử dụng xe làm phương tiện phạm tội bà H không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P2 đã trả lại xe cho bà H.

Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 13/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng P ra trước Tòa án nhân dân Quận 10 để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 vẫn giữ quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi trả lại bị hại nên gây thiệt hại không lớn theo quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) và đề nghị: Xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xét:

  • - 01 áo sơ mi trắng dài tay, 01 quần Jeans dài màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen, cam là trang phục bị can P mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị nên tiêu hủy.

Bị cáo không tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P2, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Xét, đã có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài, bị cáo Phúc lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc điện thoại di động hiệu Iphone SE của anh Đinh Hoài N1 vào hồi 06 giờ 30 phút ngày 13/01/2024 tại nhà số G T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tài sản bị cáo chiếm đoạt có qua định giá có giá trị là 1.000.000 đồng.

Xét, bị cáo Nguyễn Hoàng P đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án nhưng lại tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có trị giá 1.000.000 đồng, đây là yếu tố định tội đối với bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự, trị an xã hội. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng với động cơ vụ lợi bất chính, lười lao động muốn có tiền tiêu xài nên vẫn cố ý phạm tội.

Xét, bị cáo có nhân thân rất xấu, rất nhiều lần bị Tòa án xử phạt tù về các tội chiếm đoạt tài sản nhưng không chịu sửa chữa mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội, thể hiện bị cáo có thái độ xem thường pháp luật, do đó cần phải có mức hình phạt thật nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

[4] Các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại các điểm h,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Sau khi xem xét khách quan, toàn diện về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người có ích. Hình phạt đối với bị cáo cũng để giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nhiều lần bị xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản. Do đó cần phạt bổ sung bị cáo số tiền nộp ngân sách nhà nước

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường những khoản gì khác. Tại phiên tòa đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề để xem xét, giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Xét,

  • - 01 áo sơ mi trắng dài tay, 01 quần Jeans dài màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen, cam - là trang phục bị can P mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị nên tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 5 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/2024.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tiêu hủy: 01 áo sơ mi trắng dài tay, 01quần Jeans dài màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen, cam

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 46/QĐ-VKS ngày 11/3/2024 của Viện kiểm sát Quận 10)

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 10;
  • - Công an Quận 10, PC53;
  • - Chi cục Thi hành án DS Quận 10;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Nhất Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 54/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger