Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————

Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09 - 5 - 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và ông Lê Văn Ánh.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST- HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1983;
  • Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1982;

Cùng địa chỉ: Ấp P C, xã P B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

(Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt nhưng không rõ lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2024 và lời khai trong thời gian chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn P trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Thanh T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn ngày 05 tháng 4 năm 2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung nhưng thường xảy mâu thuẫn, cãi vã với nhau do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Đến năm 2020, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống với nhau. Nay bản thân ông nhận thấy không còn tình cảm với bà T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Ông và bà T có 03 (ba) con chung là Nguyễn Minh N - sinh ngày 04/12/2008, Nguyễn Như Y - sinh ngày 12/01/2013 và Nguyễn Hà L - sinh ngày 02/12/2014. Khi ly hôn, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong thời gian chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến bị đơn nhưng bị đơn không đến Tòa án để làm việc, không giao nộp tài liệu, chứng cứ để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tòa án lập Biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân của các đương sự tại địa phương và thông báo kết quả thu thập được tài liệu, chứng cứ gửi đến các đương sự. Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ: Nguyên đơn không có ý kiến về các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp, cũng như các tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã thu thập được và không bổ sung tài liệu, chứng cứ nào khác; bị đơn vắng mặt, Tòa án đã Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tống đạt theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

  • Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng trình tự tố tụng theo quy định đối với một phiên tòa sơ thẩm.
  • Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ: Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 85, 89, 90, 91, 92 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Cho ông Nguyễn Văn P được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T; giao 03 con chung là Nguyễn Minh N - sinh ngày 04/12/2008, Nguyễn Như Y - sinh ngày 12/01/2013 và Nguyễn Hà L - sinh ngày 02/12/2014 cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng; bà T không cấp dưỡng nuôi con do ông P không yêu cầu; về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết, khi nào có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác; về án phí: Nguyên đơn phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Xác định thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Thanh T cư trú tại ấp P C, xã P B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ theo điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

[1.2] Xác định quan hệ pháp luật: Ông P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà T và được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên. Vì vậy, quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.3] Xác định tư cách đương sự: Ông P khởi kiện đối với bà T. Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định ông P là nguyên đơn, bà T là bị đơn trong vụ án.

[1.4] Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:

[2.1] Về hôn nhân: Các đương sự tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 23, ngày 05 tháng 04 năm 2008. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, khi ông P yêu cầu ly hôn thì Tòa án căn cứ Luật hôn nhân gia đình để giải quyết.

Trên cơ sở lời khai của đương sự và tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình tiến hành tố tụng thể hiện: Các đương sự sống chung nhưng thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, sống không hạnh phúc và ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Ông P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và bà T đã biết được việc Tòa án thụ lý vụ án, được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng, cho thấy bà T bỏ mặc, không quan tâm và không mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, tiếp tục chung sống với nhau, cũng như không đưa ra ý kiến gì phản đối việc ông P yêu cầu ly hôn với mình.

Từ những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các đương sự đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ giữa vợ và chồng; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không được liên tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.2] Về con và cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự có 03 (ba) con chung là Nguyễn Minh N - sinh ngày 04/12/2008, Nguyễn Như Y - sinh ngày 12/01/2013 và Nguyễn Hà L - sinh ngày 02/12/2014. Khi ly hôn, ông P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bị đơn không gửi ý kiến, yêu cầu của mình và cũng không phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Mặt khác, từ khi vợ chồng sống ly thân các con chung đều do ông P trực tiếp nuôi dưỡng và có nguyện vọng được sống cùng với nguyên đơn. Vì vậy, để tránh xáo trộn trong cuộc sống và tránh ảnh hưởng đến tâm lý của các con chung nên giao các con chung cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở pháp luật. Ông P không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết và Tòa án cũng không ghi nhận được ý kiến, yêu cầu của bị đơn về việc giải quyết tài sản chung khi nào có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

[2.4] Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án cũng không ghi nhận được ý kiến, yêu cầu của bị đơn về việc giải quyết nợ chung nên khi nào có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 235, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Điều 39 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điều 85, 89, 91, 92, 93 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
  • - Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P.
    1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn P được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T.
    2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Ông P và bà T có 03 (ba) con chung là: Nguyễn Minh N - sinh ngày 04/12/2008, Nguyễn Như Y - sinh ngày 12/01/2013 và Nguyễn Hà L - sinh ngày 02/12/2014. Giao cháu N, cháu Y và cháu L cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng. Ông P không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không giải quyết.

    Các đương sự có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây cản trở. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

    1. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không ghi nhận được yêu cầu của đương sự về việc giải quyết tài sản chung, nợ chung nên không giải quyết. Khi nào có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
  1. Về án phí: Ông Nguyễn Văn P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) ông P đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0012963 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Ông P đã nộp đủ.
  2. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (Để thi hành);
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • - UBND xã P B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (Đăng ký kết hôn số 23 ngày 05/4/2008);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Lưu trữ cơ quan.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Văn Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn P - T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger