|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08/8/2024. V/v: “tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Bà Mai Lương Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Phú – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 08/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 261/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2024/QÐST –DS ngày 12/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thảo N, sinh năm 1997, địa chỉ: Số F đường Đ, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Anh Lê Minh T, sinh năm 1993, địa chỉ: 1 B, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
(chị N có mặt, anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Hà Thảo N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Minh T lấy nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C1, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 08/6/2022. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì nảy sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không cùng tiếng nói chung, anh T không có trách nhiệm với vợ con. Sau khi xảy ra mâu thuẩn chị đã về nhà mẹ đẻ sinh sống, không còn sống chung với anh T từ tháng 02 năm 2023 đến nay, anh T cũng không có thiện chí hòa giải để hàn gắn gia đình. Nay, chị xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không còn khả năng hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Minh T.
- Về con chung: anh chị có 01 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh C, sinh ngày 13/02/2023. Hiện nay, con đang ở chung với chị. Sau ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hà Thảo N yêu cầu anh Lê Minh T cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đ/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Lê Minh T vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Tòa án xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, nguyên đơn, bị đơn và thu thập chứng cứ theo đúng quy định tại các Điều 35, 51, 56, 68, các Điều 94 đến Điều 98, Điều 203, 205, các Điều 208 đến Điều 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 91, 96 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 91, 96 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N cho chị N được ly hôn với anh Lê Minh T.
- Về con chung: Giao cháu Lê Ngọc Quỳnh C, sinh ngày 13/02/2023 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Lê Minh T cấp dưỡng nuôi cháu Lê Ngọc Quỳnh C, sinh ngày 13/02/2023 số tiền 3.000.000đ/tháng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “tranh chấp ly hôn” giữa nguyên đơn chị Hà Thảo N và anh Lê Minh T theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Theo chị N trình bày sau khi kết hôn vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không cùng tiếng nói chung, anh T không có trách nhiệm với vợ con, anh T và chị N đã không còn chung sống với nhau từ tháng 02 năm 2023. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, thể hiện anh T không có thiện chí hòa giải để đoàn tụ gia đình. Qua xác minh thì mâu thuẫn giữa chị N và anh T không báo nên chính quyền địa phương không nắm được.
Hội đồng xét xử thấy rằng giữa chị N và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn sự quan tâm và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị N ly hôn với anh T là phù hợp và đúng pháp luật.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh C, sinh ngày 13/02/2023. Xét thấy, cháu C đang ở với chị N và chị N có nguyện vọng được nuôi dưỡng và chăm sóc cháu C. Vì vậy, giao cháu C cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
- Về cấp dưỡng nuôi con: chị N yêu cầu anh Lê Minh T cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đ/tháng. Chị N trình bày chị làm công nhân thu nhập 7.000.000đ/tháng, chi phí nuôi cháu C từ 6.000.000₫ đến 7.000.000đ/tháng nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị N. Vì vậy, buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi cháu C 3.000.000đ/tháng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có
[3] Về án phí: Buộc chị Hà Thảo N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Lê Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Hà Thảo N được ly hôn với anh Lê Minh T.
2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh C, sinh ngày 13/02/2023 cho chị H Thảo Nguyên trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Anh Lê Minh T cấp dưỡng nuôi cháu C 3.000.000₫ (ba triệu đồng)/tháng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: chị Hà Thảo N phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000626 ngày 05/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Anh Lê Minh T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Hà Thảo N có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Anh Lê Minh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Vân Hồng |
5
Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn
