TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 54/2024/DS-PT Ngày: 08 - 5 - 2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Ngân
Các Thẩm phán: Ông Võ Thái Sơn
Bà Lê Thị Thọ
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Đặng Kim Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 68/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2023/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1967.
Địa chỉ: ấp Đ, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn Đ
Địa chỉ: ấp Đ, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Vũ Tố Q, sinh năm 1968.
Địa chỉ: số C, đường N, phường A, quận N, TP Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Võ Mỹ L
- Anh Huỳnh Chí L1
- Chị Huỳnh Thị Kim H
- Chị Huỳnh Thị Kim N
Cùng địa chỉ: ấp Đ, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Võ Mỹ L, chị Huỳnh Thị Kim H, chị Huỳnh Thị Kim N: Anh Huỳnh Chí L1
Địa chỉ: ấp Đ, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
5. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1967.
Địa chỉ: ấp Đ, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Huỳnh Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Mỹ L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn K trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Huỳnh Văn M là cậu ruột nguyên đơn (đã qua đời năm 2006) tặng cho nguyên đơn năm 1992. Năm 17 tuổi nguyên đơn về sống với cậu Mang do mẹ, cha đông con, còn gia đình cậu đơn chiết. Nguyên đơn phụ giúp cậu, mợ công việc nhà. Năm 1990 cậu M và mợ là bà Võ Mỹ L đứng ra cưới vợ cho nguyên đơn, vợ chồng nguyên đơn chung sống với gia đình cậu, mợ khoản 2 năm thì cậu cho nguyên đơn ra riêng. Cậu cho nguyên đơn 1 công tầm lớn (khoản 1300 m²), đất tọa lạc tại ấp Đ, thị trấn N, hiện trạng lúc đó là lung, bào, hố bom nguyên đơn đã cải tạo, san lắp và cất nhà sinh sống cùng vợ con trên 30 năm, có trồng cây trái quanh nhà. Đến năm 2006 cậu Mang lâm bệnh nặng cậu có gọi nguyên đơn lại dặn dò trước mặt mợ L và các con phần đất này cậu cho nguyên đơn vĩnh viễn, với điều kiện phải trả nợ Hội cựu chiến binh 7.000.000 đồng. Vợ chồng nguyên đơn đồng ý và trả tiền 7.000.000 đồng, đưa trực tiếp cho mợ L. Đến ngày 21/9/2006 (al) cậu Mang qua đời. Sau đó mấy tháng nguyên đơn có đến nhà mợ L xin tách bằng khoán nhưng mợ L nói để từ từ tính. Thời gian kéo dài đến ngày 22/5/2022 có địa chính đến đo đạc đất. Nguyên đơn hỏi thì biết bị đơn em Huỳnh Văn Đ làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền. Nguyên đơn không ký giáp ranh, yêu cầu bị đơn tách giấy đỏ cho nguyên đơn vì phần đất này lúc sinh thời cậu M đã cho nguyên đơn, sau đó 02 ngày em Đ mời nguyên đơn đến họp gia đình, mợ L và các em Đ, L1, N, H ký giấy đồng ý cho nguyên đơn toàn bộ phần đất nguyên đơn đang ở. Sau đó nguyên đơn đến nhà nhờ mợ và các em tách giấy đỏ cho nguyên đơn thì xảy ra mâu thuẫn, mợ L và các em chỉ cho nguyên đơn phần đất khoản 200m². Nay nguyên đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bị đơn Huỳnh Văn Đ tách thửa công nhận cho nguyên đơn phần đất như kết quả đo đạc tổng diện tích 1124,5m², phần đất tọa lạc tại ấp Đ, thị trấn N. Nguyên đơn thống nhất kết quả đo đạc, thẩm định giá phần đất tranh chấp.
Bị đơn có đại diện theo ủy quyền là bà Vũ Tố Q trình bày: Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Huỳnh Văn M cha ruột của bị đơn. Trước đây nguyên đơn Huỳnh Văn K1 ở chung nhà với ông M, bà L do ông K1 là cháu ruột của ông M nên được nuôi dưỡng. Đây là tài sản chung của ông M, bà L, ông M đã mất và bà L không đồng ý cho ông K1 nữa vì ngày 01/6/2022 bà L và các con họp lại có cho ông K1 một phần đất khoảng 300m² hiện trạng nhà đang ở, nhưng ông K1 không đồng ý nên bị đơn Huỳnh Văn Đ không đồng ý cho nguyên đơn. Những cây trồng nào của nguyên đơn trồng thì tự di dời và trả lại đất cho bị đơn. Bị đơn đơn phản tố yêu cầu nguyên đơn trả lại phần đất tranh chấp 1124,5m² theo đo đạc thực tế, thống nhất lược đồ đo đạc và kết quả định giá tài sản vì giữa nguyên đơn và bị đơn không thỏa thuận được giá. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay do bị đơn đang quản lý, không cầm cố, sang bán, thế chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Mỹ L trình bày: Thống nhất với lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của bị đơn. Đề nghị tòa án buộc nguyên đơn Nguyễn Văn K trả lại đất cho bị đơn Huỳnh Văn Đ vì bà chỉ cho ông K ở đậu chứ không có cho luôn, bà không có nhận 7.000.000 đồng của ông K. Bản thân bà không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Chí L1, chị Huỳnh Thị Kim H và chị Huỳnh Thị Kim N cùng có ý kiến trình bày: Thống nhất với lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của bị đơn. Đề nghị tòa án buộc nguyên đơn Nguyễn Văn K trả lại đất cho bị đơn Huỳnh Văn Đ, lý do anh K có 8000m² đất ở ấp Đ đã bán cho ông Mai Văn H1. Bản thân anh, chị không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P trình bày: Năm 1990 bà được cậu Huỳnh Văn M và mợ Võ Mỹ L đứng ra cưới cho ông Nguyễn Văn K, vợ chồng bà chung sống với cậu mợ đến năm 1992 thì ra riêng khi có con đầu lòng. Cậu Mang có cho chồng bà phần đất khoản một công tầm lớn (khoản 1.300m²), vợ chồng bà cất nhà và trồng cây sinh sống đến nay. Việc em L1 cho rằng vợ chồng bà có 8000m² đất bán cho ông Mai Văn H1 là không đúng, phần đất này của em ruột bà là Nguyễn Văn L2, chỉ đứng tên dùm và có làm giấy tờ. Bà thống nhất lời trình bày của nguyên đơn Nguyễn Văn K, bản thân bà không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2023/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn K. Công nhận phần đất có diện tích 1124,5m². Đất tọa lạc tại ấp Đ, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn Nguyễn Văn K. (Kèm theo lược đồ)
Nguyên đơn Nguyễn Văn K có quyền liên hệ với các cơ quan nhà nước để thực hiện việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Huỳnh Văn Đ về việc đòi lại diện tích đất 1124,5 m² tại ấp Đ, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định, định giá và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 05 tháng 9 năm 2023, bị đơn ông Huỳnh Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Mỹ L có đơn kháng cáo. Nội dung kháng cáo: yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc ông K phải trả lại đất và tài sản gắn liền với đất cho bị đơn
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn K yêu cầu công nhận phần đất có diện tích 1.124,5m² thuộc quyền sở hữu của ông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:
- Về chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Về thu thập tài liệu, chứng cứ đây là quan hệ tặng cho có điều kiện, nguyên đơn có trả số tiền 7.000.000 đồng dùm ông M hay không vấn đề này chưa thu thập làm rõ nội dung tiền số tiền gì, trả cho ai và mục đích trả; Ông K nhận đất từ ông M có sự tôn tạo, tăng giá trị đất cũng chưa được đặt ra xem xét. Từ những vi phạm nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thẩm quyền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/9/2023, bị đơn ông Huỳnh Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Mỹ L có đơn kháng cáo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Mỹ L, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm có những sai sót như sau:
Tại đơn khởi kiện ngày 16/9/2022, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận phần đất có diện tích khoảng 01 công (tương đương khoảng 1000m²) thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn và buộc ông Huỳnh Văn Đ phải tách thửa cho nguyên đơn. Ngày 04/11/2022, Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành thụ lý giải quyết vụ án theo yêu cầu của nguyên đơn. Sau khi Tòa án tiến hành thẩm định phần đất tranh chấp thì diện tích phần đất tranh chấp là 1.124,5m² thuộc thửa đất số 84, tờ bản đồ số 10 theo Mảnh trích đo địa chính số 18 ngày 27/02/2023, phần đất này bị đơn đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05017 cấp ngày 08/9/2022. Hội đồng xét xử nhận thấy sau khi đo đạc, thẩm định phần đất tranh chấp thì diện tích có tăng so với diện tích nguyên đơn khởi kiện ban đầu nhưng nguyên đơn không có đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung và Tòa án không tiến hành thụ lý bổ sung về phần diện tích tăng thêm so với yêu cầu khởi kiện ban đầu. Tòa án cấp sơ thẩm lại tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn K công nhận phần đất có diện tích 1.124,5m². Đất tọa lạc tại ấp Đ, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn Nguyễn Văn K. Việc công nhận diện tích 1.124,5m² cho nguyên đơn là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu của nguyên đơn.
Theo lời trình bày của nguyên đơn thì nguyên đơn đã ở và canh tác trên phần đất được ông M cho kể từ năm 1992 đến nay nhưng vào ngày 22/5/2022 nguyên đơn mới biết là phần đất này do ông Đ đứng tên. Gia đình bị đơn cũng họp mặt các thành viên trong gia đình vào ngày 01/6/2022 để cho ông K phần đất. Hội đồng xét xử nhận thấy phần đất ông Huỳnh Văn M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 20/9/1993, nguyên đơn cho rằng được cho vào năm 1992 vậy thời điểm ông M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chỉnh lý biến động sang tên cho ông Huỳnh Văn Đ vào ngày 05/6/2007 thì nguyên đơn là người ở và canh tác trực tiếp phần đất này lại không có tranh chấp. Đến ngày 22/5/2022 thì nguyên đơn mới biết phần đất do ông Đ đứng tên và phát sinh tranh chấp nhưng bị đơn vẫn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05017 ngày 08/9/2022. Tòa án cấp sơ thẩm chưa tiến hành thu thập ý kiến của cơ quan có thẩm quyền về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bị đơn từ ông Huỳnh Văn M sau đó chuyển thừa kế cho ông Huỳnh Văn Đ và việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Văn Đ vào năm 2022 có đúng theo quy định hay không. Từ đó, không đưa cơ quan cơ quan có thẩm quyền về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là thiếu sót.
Nguyên đơn cho rằng ông Huỳnh Văn M cho đất ông với điều kiện phải trả nợ cho Hội cựu chiến binh số tiền 7.000.000 đồng, vợ chồng nguyên đơn đồng ý trả và đưa số tiền cho bà L. Bà Võ Mỹ L lại không thừa nhận có nhận số tiền 7.000.000 đồng của nguyên đơn. Xét thấy đương sự có mâu thuẫn đối với số tiền trên nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại không tiến hành đối chất để làm rõ số tiền là thiếu sót.
[3]. Từ những nhận định trên, xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và việc thu thập chứng cứ không đầy đủ mà không thể khắc phục được. Do đó, cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
[4]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Chưa ai phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Tuyên xử
1. Hủy bản án sơ thẩm số 67/2023/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang giải quyết lại theo thủ tục chung.
2. Về án phí và chi phí tố tụng:
- Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng chưa ai phải chịu.
- Án phí dân sự phúc thẩm không ai phải chịu.
Ông Huỳnh Văn Đ và bà Võ Mỹ L được nhận lại 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0011355 và 0011356 ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 08/5/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Ngân |
Bản án số 54/2024/DS-PT ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 54/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy án sơ thẩm
