|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày 08-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
1. NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Hưng.
2. Bà Nguyễn Thị Hường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Nghị, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại Phòng xét xử Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông. Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mùa A T (Không có tên gọi khác), sinh ngày 01/01/1980 tại tỉnh Điện Biên; nơi cư trú trước khi bị bắt: Bản S, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùa Sống L (đã chết) và bà Vàng Thị C, sinh năm 1932; vợ Vì Thị G, sinh năm 1987 và có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiên sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; tạm giữ từ ngày 16/01/2024 đến ngày 25/01/2024; tạm giam từ ngày 25/01/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 16/01/2024, Mùa A T đi bộ từ bản S, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên sang bản X, xã N, huyện Đ để tìm mua ma túy sử dụng. Đến nơi, T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông tên Giàng A H 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 02 cục Heroine với giá 600.000đ. Nhận được ma túy T mang về nhà vào trong buồng ngủ dùng tay cấu mỗi cục Heroine một ít để trên mặt bàn. Số Heroine còn lại T lấy mảnh nilon màu hồng và mảnh nilon màu trắng gói lại thành 02 gói rồi cho vào 01 túi nilon màu hồng và cất vào túi quần bên phải đang mặc. Hồi 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang chuẩn bị sử dụng số Heroin để trên mặt bàn thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ của T số Heroine trên mặt bàn và các gói Heroine trong túi quần của T với tổng khối lượng là 2,44 gam.
Vật chứng thu giữ gồm: 02 cục chất bột màu trắng đục dạng nén nghi Heroine; 01 túi nilon màu hồng, trên bề mặt có chữ “A” có nẹp gắn kín, bên trong có 02 gói nilon, trong đó 01 gói nilon màu hồng được buộc thắt nút, gói nilon còn lại màu hồng, dùng nhiệt gắn kín, bên trong cả 02 gói đều chứa chất bột màu trắng đục dạng nén nghi Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 18 giờ 45 phút, ngày 16/01/2024 xác định:
- 02 cục chất bột màu trắng đục dạng nén nghi Heroine thu giữ của Mùa A T, có khối lượng 0,09 gam, gửi toàn bộ đi giám định (được ký hiệu VC1).
- Tổng số các chất bột màu trắng đục nghi Heroine được gói trong gói nilon màu trắng, thu giữ của Mùa A T, có khối lượng 2,04 gam, gửi toàn bộ đi giám định (được ký hiệu VC2).
- Tổng số các chất bột màu trắng đục nghi Heroine được gói trong gói nilon màu hồng, thu giữ của Mùa A T, có khối lượng 0,31 gam, gửi toàn bộ đi giám định (được ký hiệu VC3).
Tại bản kết luận giám định số: 281/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Mùa A T có ký hiệu, khối lượng VC1: 0,09 gam; VC2: 2,04 gam; VC3: 0,13 gam thu giữ của Mùa A T gửi giám định là chất ma tuý: Loại Heroine.
Bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSĐBĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Mùa A T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Đ giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Mùa A T cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Mùa A T từ 36 tháng đến 39 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy 2,3 gam Heroine hoàn lại sau khi giám định.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng, 01 túi nilon màu trắng và 01 túi nilon màu hồng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi của bị cáo Mùa A T thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, một lần nữa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:
Hồi 13 giờ 30 ngày 16/01/2024, tổ công tác Công an huyện Đ đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang tại nhà của Mùa A T ở Bản S, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Mùa A T đã cất giấu trái phép tại nơi ở và trên người 2,44 gam Heroine, mục đích để bản thân sử dụng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Mùa A T đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Như vậy, bản Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, đề nghị của Viện Kiểm sát phù hợp, HĐXX chấp nhận.
[2]. Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn xã K nói riêng, huyện Đ nói chung. Vì vậy, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không có tình thiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bố đẻ bị cáo là ông Mùa Sống L được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[4]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[5]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử chấp nhận đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục đồng thời để cai nghiện bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp bị cáo làm nông nghiệp, là đối tượng nghiện chất ma túy, tài sản gia đình không có gì có giá trị, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên không có điều kiện để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
[7]. Về vật chứng vụ án: Gồm 2,3 gam Heroine hoàn lại sau giám định; là chất thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng và 01 túi nilon màu hồng cần tịch thu, tiêu hủy toàn bộ theo Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
[8]. Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông tên Giàng A H, trú tại bản X, xã N là người đã bán ma tuý cho Mùa A T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã phối hợp với Công an xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, trực tiếp xác minh tại địa bàn, qua xác minh tại bản X, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, không có công dân nào tên là Giàng A H, có thông tin, đặc điêm như Mùa A T khai. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên Đông, không đủ căn cứ xác minh lấy lời khai, do vậy không đề cập xử lý trong vụ án này. HĐXX không xem xét.
[9]. Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm vì là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Mùa A T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Mùa A T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 16/01/2024).
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu, tiêu huỷ 2,3 gam Heroine hoàn lại sau giám định.
- Tịch thu, tiêu huỷ 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng và 01 túi nilon màu hồng.
Vật chứng trên được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 00 phút ngày 11/4/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14;
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa A T.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/5/2024)./.
Nơi nhận:
- - VKSND huyện Điện Biên Đông;
- - VKSND tỉnh Điện Biên;
- - Bị cáo;
- - Nhà tạm giữ C.A huyện Điện Biên Đông;
- - Cơ quan CSĐT C.A huyện Điện Biên Đông;
- - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên;
- - Cơ quan THAHS C.A tỉnh Điện Biên;
- - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
- - CC.THADS huyện Điện Biên Đông;
- - Lưu Hồ sơ.
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Giang |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Mùa A T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS
