Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 54/2024/DS-ST.

Ngày: 07-9-2024.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản”

và “Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Minh Trâm.

2. Bà Lê Thị Thu Sương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường V - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 301/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản” và “Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 56/2024/QĐST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/TB-TA ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S1 Có Ngay.

Địa chỉ trụ sở chính: Số A N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông KANORWATPAISAL NAPAT - Sinh năm 1972 - Chức danh: Giám đốc.

Địa chỉ liên lạc: Số I đường L, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn S - Sinh năm 1996; Chức vụ: Nhân viên Công ty Cổ phần S1 Có Ngay (Theo Giấy ủy quyền số 09/2023/UQ-SVN ngày 11/10/2023) (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

2/ Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bé B - Sinh năm 1979 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố F, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn S trình bày:

Công ty Cổ phần S1 Có Ngay (Viết tắt là Công ty S1) không được Ngân hàng N cấp phép hoạt động nên không hoạt động kinh doanh theo Luật các tổ chức tín dụng và các Văn bản hướng dẫn của Ngân hàng N đối với các tổ chức tín dụng phi Ngân hàng. Công ty S1 chỉ được Phòng đăng ký kinh doanh - Sở kế hoạch đầu tư tỉnh N cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, đăng ký thay đổi lần thứ 7 ngày 27/03/2024.

Công ty S1 có các tên ngành đăng ký theo “Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp” số 5942/24 ngày 22/03/2024 của Phòng đăng ký kinh doanh - Sở kế hoạch đầu tư tỉnh N. Theo đó, thông tin của doanh nghiệp (Công ty S1) được cập nhật vào hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp gồm ngành nghề kinh doanh, mã ngành và kinh doanh đúng các ngành nghề đã đăng ký; trong đó có ngành chính là “Dịch vụ cầm đồ” theo mã ngành 6492.

Ngày 03/8/2022, bà Nguyễn Thị Bé B và Công ty Cổ phần S1 Có Ngay qua Công ty TNHH S2 - Chi nhánh P (Viết tắt là Công ty S1) ký kết Hợp đồng cầm cố số PRM220801005NA22X và Phụ lục Hợp đồng cầm cố điều khoản chung số PRM220801005NA22X (Viết tắt là Hợp đồng cầm cố); cụ thể như sau:

Công ty S1 nhận bảo đảm khoản tiền cầm cố thông qua Hợp đồng cầm cố số PRM220801005NA22X, số đăng ký giao dịch bảo đảm trên hệ thống đăng ký trực tuyến của cục Đ: Giaodichdambao/botuphap; theo web: https://dktructuyen.moj.gov.vn/với tài sản cầm cố là chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe SH 125; số khung RLHJF9504NY104063; số máy JF95E0119215; biển số: 85B1-893.35; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 010056 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 25/01/2022 thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Bé B để bà B nhận số tiền cầm cố là 39.600.000 đồng với thời hạn cầm cố là 12 tháng (Kể từ ngày 03/8/2022 đến ngày 03/8/2023). Tài sản cầm cố giữa bà Nguyễn Thị Bé B và Công ty S1 đã được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hà Nội chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng số 1468424608 ngày 10/8/2022.

Lãi suất cầm cố cố định là 1,1%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền. Bà B cam kết thanh toán tiền định kỳ hàng tháng bao gồm gốc và lãi trong hạn với số tiền là 3.653.181 vào ngày 03 hàng tháng từ tháng 9/2022 đến tháng 8/2023. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cầm cố trong hạn được áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Phí quản lý hồ sơ cố định là 0,5%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền.

Phí đăng ký và xóa giao dịch bảo đảm là 150.000 đồng; loại phí này chỉ thu 01 lần tại thời điểm giao kết hợp đồng, Công ty S1 đã thu của bà B.

Phí tổ chức kiểm tra giá trị tài sản ban đầu là 594.000 đồng; loại phí này chỉ thu 01 lần tại thời điểm giao kết hợp đồng làm căn cứ chấp thuận khoản cầm cố của khách hàng; Công ty S1 đã thu của bà B.

Phí trả nợ trước hạn là 7% trên dư nợ thực tế chưa đến hạn; loại phí này chỉ thu khi khách hàng có nguyện vọng muốn trả nợ trước hạn.

Phạt vi phạm kỳ hạn trả nợ với mức phí là 8% trên dư nợ thực tế chưa đến hạn.

Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm.

Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Bé B đã lập “Giấy ủy quyền” ngày 03/8/2022 ủy quyền cho Công ty S1 với nội dung: “Bên nhận ủy quyền được thay mặt bên ủy quyền quản lý, sử dụng và định đoạt (cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng của tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc khai thác tài sản) chiếc xe mang biển số 85B1-893.35”. Do bà B không có phương tiện đi lại để phục vụ công việc cá nhân nên trong ngày 03/8/2022, bà B đã lập “Giấy mượn xe” xin mượn lại chiếc xe mang biển số 85B1-893.35 đã được cầm cố trên trong thời hạn 30 ngày từ ngày 03/8/2022 đến ngày 03/9/2022 và Công ty S1 đã đồng ý bàn giao tài sản cầm cố trên cho bà B mượn. Bà B đồng ý trả các loại phí gồm:

Phí mượn xe là 831.600 đồng nếu quá thời hạn nêu trên mà bà Ba k trả xe cho Công ty S1 thì sẽ vẫn phải chịu phí mượn xe theo thỏa thuận trên.

Phí thu hồi, xử lý tài sản cầm cố xe máy là 1.000.000 đồng và các thỏa thuận khác liên quan đến việc mượn xe máy nêu trên.

Quá trình thực hiện Hợp đồng và “Giấy mượn xe” nêu trên, bà Nguyễn Thị Bé B đã thanh toán cho Công ty S1 vào các ngày 05/9/2022, 19/10/2022, 07/10/2022 với số tiền là 13.528.376 đồng; trong đó bao gồm 9.204.457 đồng tiền gốc, 1.206.622 đồng tiền lãi trong hạn, 74.033 đồng tiền lãi quá hạn, 548.464 đồng phí quản lý hồ sơ, 2.494.800 đồng phí mượn xe rồi sau đó không trả bất kỳ khoản tiền nào cho Công ty S1 nữa. Bà B cũng không trả lại xe đã mượn cho Công ty S1 đúng hạn như cam kết.

Tại đơn khởi kiện ngày 26/9/2023, Công ty S1 yêu cầu bà Nguyễn Thị B1 Ba phải trả lại xe máy mang biển số 85B1-893.35 đã mượn theo “Giấy mượn xe” và phí mượn xe mà hai bên đã ký kết. Nếu bà B không thể trả lại xe máy thì phải trả số tiền gốc, lãi còn nợ theo Hợp đồng cầm cố tài sản. Đến phiên hòa giải ngày 15/7/2024, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà Ba p trả lại xe máy nhưng phải trả số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí mượn xe, phí quản lý hồ sơ và phí vi phạm hợp đồng.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn S đại diện theo ủy quyền cho Công ty S1 yêu cầu Tòa án giải quyết:

Không yêu cầu bà Nguyễn Thị B1 Ba phải giao trả lại chiếc xe HONDA SH 125 mang biển số 85B1-893.35; số khung: RLHJF9504NY104063; số máy: JF95E0119215 đã cầm cố mà bà Nguyễn Thị Bé B mượn lại của Công ty S1.

Buộc bà Nguyễn Thị B1 Ba phải thanh toán số tiền 48.271.000 đồng (Đã làm tròn); Trong đó tiền gốc là 30.395.543 đồng, tiền lãi trong hạn là 1.707.124 đồng, tiền lãi quá hạn là 8.684.172 đồng và phí mượn xe là 7.484.400 đồng.

Khi nào bà Nguyễn Thị Bé B thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Công ty Cổ phần S1 Có Ngay sẽ giao trả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 010056 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 25/01/2022 cho bà Nguyễn Thị Bé B.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Bé B: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Nguyễn Thị B1 Ba không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn mặc dù đã được thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Toà án nhân dân thành phố Phan Rang - T:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S1 Có Ngay.

Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thay đổi yêu cầu khởi kiện: Tại đơn khởi kiện, Công ty S1 yêu cầu bà Nguyễn Thị B1 Ba phải trả lại xe máy đã mượn theo “Giấy mượn xe” mà hai bên đã ký kết; nếu bà B không thể trả lại xe máy thì phải trả số tiền gốc, lãi theo Hợp đồng cầm cố tài sản. Đến phiên hòa giải ngày 15/7/2024, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà Ba p trả chiếc xe máy đã mượn nhưng phải trả số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí mượn xe, phí quản lý hồ sơ và phí vi phạm hợp đồng. Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà Ba p trả chiếc xe máy đã mượn lại, yêu cầu bà B trả tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và phí mượn xe. Hội đồng xét xử xác định việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên căn cứ vào Điều 244 của BLTTDS, chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của đương sự, các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bà Nguyễn Thị Bé B cầm cố xe máy cho Công ty S1 để nhận tiền, ngay sau đó lập giấy mượn xe đã cầm cố để dùng làm phương tiện đi lại. Như vậy, bản chất của giao dịch dân sự lập “Hợp đồng cầm cố” và “Giấy mượn xe” giữa Công ty S1 và bà B là để che đậy mục đích thật sự là “Vay tiền”. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản” và “Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản” theo khoản 3 Điều 26 của BLTTDS. Bị đơn có địa chỉ tại khu phố F, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Nguyễn Thị B1 Ba không đến Tòa án tham gia tố tụng, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty S1, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[2.1] Đối với nội dung vay có cầm cố tài sản: Công ty S1 cho bà Nguyễn Thị Bé B vay tiền có cầm cố tài sản là chiếc xe máy thuộc quyền sở hữu của bà B để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, việc cho vay và cầm cố tài sản các bên không lập thành từng hợp đồng riêng biệt mà lập chung một hợp đồng có tiêu đề là “Hợp đồng cầm cố” và có “Phụ lục hợp đồng cầm cố điều khoản chung” kèm theo (Gọi tắt là Hợp đồng cầm cố). Trong Hợp đồng cầm cố các bên thỏa thuận số tiền vay, lãi suất, thời hạn, phương thức thanh toán, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các khoản phí liên quan đến cầm cố tài sản. Căn cứ các chứng cứ, tài liệu và lời khai nguyên đơn cung cấp; Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1.1] Ngày 03/8/2022, giữa bà Nguyễn Thị Bé B và Công ty S1 ký kết Hợp đồng cầm cố. Căn cứ nhu cầu và trị giá tài sản cầm cố của bà B; Công ty S1 đã nhận cầm cố chiếc xe máy biển số 85B1-893.35 và cho bà B vay số tiền 39.600.000 đồng. Hai bên thỏa thuận thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất cho vay cố định là 1,1%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền; bà B có nghĩa vụ trả tiền vào ngày 03 của tháng, từ tháng 9/2022 đến tháng 8/2023; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Hợp đồng cầm cố giữa Công ty S1 và bà B được ký kết trên cơ sở tự nguyện, mục đích, nội dung và hình thức đúng quy định của pháp luật nên xác định là Hợp đồng hợp pháp; là cơ sở để giải quyết quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

[2.1.2] Quá trình thực hiện Hợp đồng cầm cố, bà B đã thanh toán cho Công ty S1 từ ngày 05/9/2022 đến ngày 07/10/2022 được số tiền gốc là 9.204.457 đồng; số tiền lãi là 1.280.655 đồng. Sau đó bà Ba k thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Công ty S1 nữa. Căn cứ các tài liệu nguyên đơn cung cấp, xác định tính đến ngày 07/10/2022, bà B còn nợ số tiền nợ gốc là: 30.395.543 đồng. Từ ngày 08/10/2022 đến ngày 03/8/2023 là 299 ngày là thời hạn còn lại trong hợp đồng, bà Ba p có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trong hạn theo quy định là 3.326.305 đồng (Cách tính: 30.395.543 đồng x 0,0366%/ngày x 299 ngày). Tuy nhiên dựa trên cách tính của Công ty SAWAD thì số tiền lãi trong hạn bà Ba p thanh toán là 1.707.124 đồng là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận. Đối với lãi quá hạn được tính từ ngày bà B vi phạm nghĩa vụ trả nợ là ngày 08/10/2022 cho đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 07/9/2024) là 700 ngày với số tiền là 11.702.284 đồng (Cách tính 30.395.543 đồng x 1,1% x 150% : 30 ngày x 700 ngày). Tuy nhiên dựa trên cách tính của Công ty SAWAD thì số tiền lãi quá hạn bà Ba p thanh toán là 8.684.172 đồng là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận.

[2.1.3] Để bảo đảm cho khoản vay, bà Nguyễn Thị Bé B đã cầm cố chiếc xe máy biển số 85B1-893.35 thuộc sở hữu của bà B cho Công ty S1. Tài sản cầm cố đã được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hà Nội chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng số 1468424608 ngày 10/8/2022. Chi phí cho việc đăng ký và xóa giao dịch bảo đảm là 150.000 đồng và chi phí tổ chức kiểm tra giá trị tài sản ban đầu là 594.000 đồng tại thời điểm giao kết hợp đồng làm căn cứ chấp thuận khoản cầm cố của bà B. Hai loại phí này chỉ thu 01 lần và Công ty S1 đã thu của bà B. Xét thấy các chi phí này là sự thỏa thuận giữa Công ty S1 và bà B, phù hợp với quy định của pháp luật, bà B đã trả mà không có ý kiến gì và Công ty S1 không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.2] Đối với nội dung mượn tài sản: Theo các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp; Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.2.1] Ngày 03/8/2022, bà Nguyễn Thị Bé B đã lập “Giấy ủy quyền” để ủy quyền cho Công ty SAWAD với nội dung: “Bên nhận ủy quyền được thay mặt bên ủy quyền quản lý, sử dụng và định đoạt (cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng của tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc khai thác tài sản) chiếc xe mang biển số 85B1-893.35”. Do bà B không có phương tiện đi lại để phục vụ công việc cá nhân nên cũng trong ngày 03/8/2022; bà B đã lập “Giấy mượn xe” xin mượn lại chiếc xe mang biển số 85B1-893.35 đã được cầm cố trong thời hạn 30 ngày từ ngày 03/8/2022 đến ngày 03/9/2022 và Công ty S1 đã đồng ý bàn giao tài sản cầm cố trên cho bà Ba m; bà B đồng ý trả phí mượn xe là 831.600 đồng, nếu quá thời hạn nêu trên mà bà Ba k trả xe cho Công ty S1 thì vẫn phải chịu phí mượn xe đã thỏa thuận.

[2.2.2] Việc các bên thỏa thuận cho mượn lại tài sản cầm cố và thỏa thuận phí mượn xe là sự tự nguyện của các bên tham gia giao dịch, không bị pháp luật cấm tại thời điểm thỏa thuận. Bà B đã thực hiện trên thực tế, trả cho Công ty S1 03 tháng với số tiền 2.494.800 đồng mà không có tranh chấp, khiếu nại gì. Từ ngày 03/11/2022 cho đến nay là gần 02 năm, bà B chưa giao lại tài sản cầm cố đã mượn lại và cũng không thanh toán chi phí mượn tài sản cho Công ty S1. Tuy nhiên, Công ty S1 chỉ yêu cầu bà Ba p thanh toán chi phí mượn tài sản đến tháng 08/2023 với số tiền là 7.484.400 đồng (Cách tính: 831.600 đồng/tháng x 09 tháng) là có lợi cho bị đơn nên chấp nhận.

[2.3] Như vậy, Công ty S1 yêu cầu bà Nguyễn Thị B1 Ba phải thanh toán tiền gốc là 30.395.543 đồng, tiền lãi trong hạn là 1.707.124 đồng, tiền lãi quá hạn là 8.684.172 đồng, tiền phí mượn xe là 7.484.400 đồng; tổng số tiền là 48.271.000 đồng (Đã làm tròn theo đề nghị của nguyên đơn) là có căn cứ chấp nhận.

[2.4] Chiếc xe máy mang biển số 85B1-893.35, Công ty S1 đã giao cho bà B quản lý, sử dụng khi hai bên lập “Giấy mượn xe” và không yêu cầu bà Ba p trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Đối với Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 010056 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 25/01/2022 mang tên bà Nguyễn Thị Bé B, hiện tại Công ty S1 đang giữ, khi nào bà B thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ Công ty S1 có nghĩa vụ giao trả cho bà B.

[3]. Tại Hợp đồng cầm cố tài sản, bà Nguyễn Thị Bé B và Công ty S1 có thỏa thuận phí quản lý hồ sơ cố định là 0,5%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền. Bà B đã trả cho Công ty S1 được số tiền theo thỏa thuận này là 548.464 đồng. Theo quy định của pháp luật hiện hành về cầm cố tài sản là không có phí. Lẽ ra, số tiền trên Công ty S1 phải trả lại cho bà B, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, bà B không có ý kiến hay khiếu nại gì về số tiền này và Công ty S1 cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với loại phí này nữa nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, giải quyết.

[4] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị Bé B, có nội dung thể hiện yêu cầu khởi kiện của Công ty S1 đối với bà B nhưng bà B không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Công ty S1 xuất trình nên có cơ sở khẳng định bà B đã từ bỏ quyền của mình được pháp luật quy định.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên Công ty S1 không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm và được hoàn lại số tiền đã tạm ứng; bị đơn là bà Nguyễn Thị B1 Ba phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm là 2.413.500 đồng (Đã làm tròn).

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 244; Điều 271, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Các Điều 309, 310, 311, 313, 316, 375, 463, 466, 468, 470, 494, 496, 497 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S1 Có Ngay.

1. Buộc bà Nguyễn Thị Bé B có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần S1 Tiền Có Ngay số tiền tổng cộng là 48.271.000 đồng (Đã làm tròn) (Bốn mươi tám triệu, hai trăm bảy mươi mốt nghìn đồng). Trong đó tiền gốc là 30.395.543 đồng (Ba mươi triệu, ba trăm chín mươi lăm nghìn, năm trăm bốn mươi ba đồng), tiền lãi trong hạn là 1.707.124 đồng (Một triệu, bảy trăm linh bảy nghìn, một trăm hai mươi tư đồng), tiền lãi quá hạn là 8.684.172 đồng (Tám triệu, sáu trăm tám mươi tư nghìn, một trăm bảy mươi hai đồng) và phí mượn xe là 7.484.400 đồng (Bảy triệu, bốn trăm tám mươi tư nghìn, bốn trăm đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong; bà Nguyễn Thị Bé B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất Công ty Cổ phần S1 Có Ngay và bà Nguyễn Thị Bé B thỏa thuận trong các hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Ngay sau khi bà Nguyễn Thị Bé B thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Công ty Cổ phần S1 Có Ngay có nghĩa vụ giao trả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 010056 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 25/01/2022 cho bà Nguyễn Thị Bé B.

2. Về án phí:

2.1. Bà Nguyễn Thị B1 Ba phải chịu 2.413.500 đồng (Đã làm tròn) (Hai triệu, bốn trăm mười ba nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

2.2. Công ty Cổ phần S1 Có Ngay không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại số tiền 1.262.000 đồng (Một triệu, hai trăm sáu mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000381 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn - quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 07/9/2024). Bị đơn vắng mặt - quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND Tp. Phan Rang-Tháp Chàm;
  • - Chi cục THADS Tp. Phan Rang-Tháp Chàm;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/DS-ST ngày 07/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản và tranh chấp hợp đồng mượn tài sản

  • Số bản án: 54/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản và Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản giữa Công ty S và bà Nguyễn Thị Bé B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger