TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:54/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 8 - 2024
V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn "
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Thành
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Trung Thành
- Bà Hà Thị Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuấn - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 02 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số:46/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự;
- - Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị T - Sinh năm 1993
- Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
- - Bị đơn: Anh Phạm Công T1 - Sinh năm 1987
- Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa chị Trịnh Thị T và anh Phạm Công T1 đều vắng mặt. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T1 vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trịnh Thị T trình bày: Chị và anh Phạm Công T1 tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 06/7/2016 tại UBND xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính nhau nên thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không còn tiếng nói chung, khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, mâu thuẫn trầm trọng nhất kể từ đầu năm 2021 cho đến nay, kể từ đó vợ chồng sống ly thân nhau, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Công T1.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh T1 có 02 con chung là Phạm Thúy L; sinh ngày 19/10/2017 và Phạm Thị Ngọc L1; sinh ngày 12/10/2019, hiện nay cả hai cháu đang ở với anh T1. Ly hôn chị có nguyện vọng giao cả hai con cho anh T1 được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai gửi cho Tòa án bị đơn anh Phạm Công T1 trình bày: Anh và chị Trịnh Thị T tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 06/7/2016 tại UBND xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 9 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính nhau, khi mâu thuẫn xảy ra thì chị T đã ra ở riêng vì vậy vợ chồng sống ly thân từ ngày 10/01/2021. Nay chị T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc giải quyết ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý ly hôn với chị theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là Phạm Thúy L; sinh ngày 19/10/2017 và Phạm Thị Ngọc L1; sinh ngày 12/10/2019. Hiện tại hai cháu đang ở với anh. Nay ly hôn nguyện vọng của anh là được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu L và L1 cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành, anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Phạm Công T1 chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình. Xử cho chị Trịnh Thị T được ly hôn với anh Phạm Công T1. Vợ chồng có hai con chung là Phạm Thúy L; sinh ngày 19/10/2017 và Phạm Thị Ngọc L1; sinh ngày 12/10/2019. Đề nghị chấp nhận sự tự nguyện của các đương sự về việc giao nuôi con chung, giao cả hai cháu L và L1 cho anh T1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Trịnh Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Phạm Công T1. Theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh Phạm Công T1 không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh T1 theo quy định tại khoản 3 điều 210 BLTTDS.
Anh Phạm Công T1 đã được triệu tập đến phiên hoà giải nhưng anh T1 không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.
Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ anh T1 lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh T1 vẫn không có mặt mà không có lý do. Chị Trịnh Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định Điều 227, Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt chị T và anh T1.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 06/7/2016 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T và anh T1 đều thừa nhận: Mâu thuẫn vợ chồng không thể hòa giải được do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống, thời gian vợ chồng ly thân nhau cũng kéo dài từ năm 2021 cho đến nay nên hôn nhân thực tế không còn tồn tại. Việc này đã được chính quyền Ủy ban nhân dân xã xác nhận và cũng phù hợp với nội dung Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân mà Tòa án đã tiến hành thu thập. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T1, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Trịnh Thị T được ly hôn với anh Phạm Công T1.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống chị T và anh T1 thống nhất có hai con chung là Phạm Thúy L; sinh ngày 19/10/2017 và Phạm Thị Ngọc L1; sinh ngày 12/10/2019. Ly hôn chị T và anh T1 đều có nguyện vọng giao cả hai cháu L và L1 cho anh T1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự về việc giao nuôi con nên được chấp nhận. Chị Trịnh Thị T có quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Công T1 xác định, anh có đủ điều kiện để đảm bảo việc nuôi con nên anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh, đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về chia tài sản chung: Chị Trịnh Thị T và anh Phạm Công T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên hội đồng xét xử không xét.
[6] Về án phí: Buộc chị Trịnh Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 28, 35, 39; 147;227; 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ: Các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ: Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị T được ly hôn với anh Phạm Công T1.
- Về con chung: Giao cháu Phạm Thúy L; sinh ngày 19/10/2017 và Phạm Thị Ngọc L1; sinh ngày 12/10/2019 cho anh Phạm Công T1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành.
Chị Trịnh Thị T được quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trịnh Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Chị Trịnh Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004244 ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, chị Trịnh Thị T đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị T và anh T1. Chị Trịnh Thị T và anh Phạm Công T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Thành |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Bùi Trung Thành | Hà Thị Hòa |
Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn
