Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỜ ĐỎ

TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/DS-ST

Ngày 06-8-2024

V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Viễn

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lương Hùng Dũng
  2. Bà Nguyễn Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 89/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 225/2024/QĐXX-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Ngọc N, sinh năm 1978 “có mặt”
  2. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ.

  3. Bị đơn:
    1. Ông Phạm Thanh S, sinh năm 1983 “vắng mặt”
    2. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ

    3. Bà Dư Lê Mỹ H, sinh năm 1985 “vắng mặt”
    4. Địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/3/2024 nguyên đơn bà Lê Ngọc N trình bày: Vào năm 2023, ông Phạm Thanh S và vợ là bà Dư Lê Mỹ H có lập hợp đồng thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 527, tờ bản đồ số 03, diện tích 5711m², loại đất chuyên trồng lúa, theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000917 ngày 11/8/2016 do ông Phạm Thanh S đứng tên theo Hợp đồng công chứng số 1890, quyền số 07/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/7/2023 để vay số tiền là 300.000.000đồng, thời hạn vay 06 tháng, lãi suất do hai bên thỏa thuận theo quy định của pháp luật. Đến tháng 9/2023, vợ chồng ông S mượn thêm số tiền 200.000.000đồng (không có lập biên nhận vay tiền nợ). Tổng cộng 02 lần vay là 500.000.000đồng. Quá trình vay, vợ chồng ông S vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không trả vốn, tiền lãi của khoản vay 300.000.000đồng trả được 04 tháng, mỗi tháng trả 3.000.000đồng. Bà N đã nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng vợ chồng ông S cố tình né tránh. Bà N khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông S phải trả cho bà số tiền vốn vay là 500.000.000đồng, lãi suất 20%/năm tính từ tháng 12/2023 đến tháng 8/2024 là 08 tháng.

Bị đơn ông Phạm Thanh S, bà Dư Lê Mỹ H được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Vụ kiện không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Bà N yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu ông S, bà H trả số tiền vay 300.000.000đồng, tiền lãi tính từ tháng 12/2023 đến tháng 8/2024 là 08 tháng, với mức lãi suất là 0,83%/tháng, tương đương số tiền lãi là 19.920.000đồng, tổng cộng vốn và lãi ông S phải trả là 319.920.000đồng. Bà N xin rút yêu cầu đối với số tiền vay 200.000.000đồng, sau này chứng minh được bà sẽ khởi kiện trong vụ kiện khác.

Ông S, bà H vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Bị đơn vay tiền của nguyên đơn nhưng vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền vay. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về việc tham gia tố tụng: Ông S, bà H là bị đơn, không có yêu cầu phản tố, được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về vốn vay: Năm 2023 ông Phạm Thanh S và vợ là bà Dư Lê Mỹ H có lập hợp đồng thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 527, tờ bản đồ số 03, diện tích 5711m², loại đất chuyên trồng lúa, theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000917 ngày 11/8/2016 do ông Phạm Thanh S đứng tên theo Hợp đồng công chứng số 1890, quyển số 07/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/7/2023 để vay của bà N số tiền là 300.000.000đồng. Quá trình vay, vợ chồng ông S vi phạm nghĩa vụ thánh toán. Do đó, bà N yêu cầu vợ chồng ông S phải trả số tiền vốn vay 300.000.000đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015.

[2.2] Về tiền lãi suất của số tiền vay: Trong hợp đồng ghi nhận lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không ghi cụ thể mức lãi suất thỏa thuận là bao nhiêu. Bà N xác định hai bên có thỏa thuận lãi suất 1%/tháng, mỗi tháng vợ chồng ông S trả lãi 3.000.000đồng, trả được 04 tháng thì ngưng không trả nữa. Quá trình tố tụng, vợ chồng ông S vắng mặt, không ghi nhận được ý kiến về việc có thỏa thuận lãi suất cụ thể khi vay hay không, bà N cũng không chứng minh được các bên thỏa thuận lãi suất là bao nhiêu. Tại phiên tòa, bà N yêu cầu vợ chồng ông S trả lãi suất chậm trả tính từ tháng 12/2023 đến tháng 8/2024 là 08 tháng, với mức lãi suất 10%/năm, tương đương 0,83%/tháng. Xét thấy, yêu cầu của bà N là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên chấp nhận. Lãi suất được tính như sau: 300.000.000đồng x 0,83%/tháng x 08 tháng = 19.920.000đồng.

[2.3] Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất bà N yêu cầu tuyên bố hủy bỏ. Bà đồng ý trả lại cho vợ chồng ông S giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính. Xét thấy, yêu cầu của bà N là phù hợp nên chấp nhận.

[2.4] Đối với khoản vay 200.000.000đồng bà N chưa cung cấp được chứng cứ chứng minh nên xin rút yêu cầu khởi kiện. Do đó đình chỉ xem xét yêu cầu này. Sau này, bà N có chứng cứ thì có quyền khởi kiện trong vụ kiện khác.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Thanh S, bà Dư Lê Mỹ H phải nộp án phí có giá ngạch trên tổng số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 17 Luật Phí và lệ phí; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Ngọc N về việc đòi nợ theo hợp đồng vay tài sản đối với ông Phạm Thanh S và bà Dư Lê Mỹ H.
  2. Buộc ông Phạm Thanh S và bà Dư Lê Mỹ H phải trả cho bà Lê Ngọc N số tiền 319.920.000đồng. Trong đó, tiền vốn 300.000.000đồng, tiền lãi 19.920.000đồng

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  3. Hủy bỏ hợp đồng thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 527, tờ bản đồ số 03, diện tích 5711m², loại đất chuyên trồng lúa, theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000917 ngày 11/8/2016 do ông Phạm Thanh S đứng tên Hợp đồng công chứng số 1890, quyền số 07/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/7/2023 được xác lập giữa bà Lê Ngọc N và ông Phạm Thanh S, bà Dư Lê Mỹ H.
  4. Bà Lê Ngọc N đồng ý trả lại cho ông Phạm Thanh S và bà Dư Lê Mỹ H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 527, tờ bản đồ số 03, diện tích 5711m², loại đất chuyên trồng lúa, theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000917 ngày 11/8/2016 do ông Phạm Thanh S (bản chính).

  5. Đình chỉ xem xét đối với yêu cầu của bà Lê Ngọc N về việc yêu cầu ông Phạm Thanh S và bà Dư Lê Mỹ H trả số tiền 200.000.000đồng do bà N rút yêu cầu.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  7. Ông Phạm Thanh S, bà Dư Lê Mỹ H phải nộp 15.996.000đồng.

    Bà Lê Ngọc N được nhận lại 12.802.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007938 ngày 14/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thị hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, sửa đổi bổ sung Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai, tuyên án có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn có mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TPCT;
  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Cờ Đỏ;
  • - Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Minh Viễn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/DS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 54/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà N dòi nợ ông S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger