|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2024/HS-ST Ngày: 06/6/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Y Manh A Drơng
- Ông: Trần Hữu Linh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Hằng Nga - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Quốc Kánh – Kiểm sát viên.
Ngày 06/6/2024 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2024/TLST-HS ngày 04/5/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HS ngày 21/5/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hoàng A TTên gọi khác: CGiới tính: N; Sinh năm: 1986; tại tỉnh Đắk Lắk; Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 09/9/2022; Nơi cấp: Cục C; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk LắkQuốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không ổn định; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: L5(đã chết); con bà: Trần Thị H(đã chết); gia đình có 5 anh em bị cáo là con út.
Tiền sự: Không;
Tiền án: 01 tiền án: Tại Bản án số 80/2012/HSST, ngày 23/8/2012, của Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo, xử phạt bị can 07 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị can đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2018, nhưng chưa chấp hành khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm và trách nhiệm dân sự nên chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/11/2023 đến ngày 21/11/2023 chuyển tạm giam, đến nay - bị cáo có mặt.
- Người bị hại:
- + Bà Lỡ Thị T− sinh năm 1966. Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – có mặt.
- + Bà Lưu Thị Bích N1– sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
- + Bà Lê Thị T1− sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Trần Thị L– sinh năm 1965. Địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
- + Bà Đoàn Thị N2– sinh năm 1978. Địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
- + Ông Nguyễn Văn Q– sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị Lệ D– sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
- + Bà Từ Thị Thanh T2– sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
- Người làm chứng:
chị Chu Thị Trà M– sinh ngày 08/11/2007. Địa chỉ: Thôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Hoàng A Tlà người nghiện ma tuý. Khoảng 12 giờ trưa ngày 11/11/2023 Tđiều khiển xe mô tô biển số: 47K8-2835 mang theo 01 con dao bấm bằng kim loại, dài 22cm đi đến quán tạp hóa của bà T(tổ dân phố D, Tmục đích để chiếm đoạt tài sản của bà T3 đến quán Thông quan sát không thấy có loại dầu gội đầu loại XMEN, nên T4 ý nói với bà T1bán cho mình 01 dây, nhằm mục đích để cho bà T1tìm kiếm, không chú ý đến mình, chờ cơ hội để khống chế bà T5 khi bà T1đang cúi người xuống tìm dầu gội theo yêu cầu của T1, thì T6 áp sát, dùng tay phải kẹp, siết cổ và kéo bà Tlvào phía bên trong phòng khách. Bà T1cố gắng vùng vẫy để thoát thân nhưng không được và bị T7 ngã ngửa ra nền nhà. Lúc này, ở bên ngoài quán có cháu Chu Thị Trà M1 hỏi mua nước ngọt, bà T1định tri hô thì bị T8 cố và dùng tay phải bịt miệng nên bà T1không tri hộ được. Thấy cháu M2 ở phía ngoài quán, T4 ý nói lớn “hết nước Sting rồi”, nghe vậy thì cháu M3 đi. Khi cháu M bỏ đi, Tbỏ bà Tlra, bà Tlnói với T9 “Con ơi, muốn gì thì lấy đi chứ cô không nói gì đâu” đồng thời tri hô “con ơi, con ơi” mục đích gọi cháu M4 lại thì bà T1bị Ttiếp tục dùng tay trái siết cổ, đồng thời tay phải lấy từ túi quần ra con dao bấm cầm trên tay đe dọa, để bà Tlim lặng. Thấy Tcầm con dao, bà T dùng tay giật lấy và ném ra hướng cửa phòng khách, còn T10 tục dùng tay khống chế bà T1khi thấy bà T1đã nằm im, không cử động nữa thì T11 bà T1ra, dùng cùi chỏ tay phải đánh mạnh từ trên xuống trúng vào phần sau đầu bà T1một cái, rồi đi ra phía cửa phòng khách. Tnhìn thấy chiếc túi xách bằng vải màu đen có dòng chữ “VOYAGER” dùng để đựng tiền bán hàng của bà T1nên cầm lấy đi ra ngoài cửa, khởi động xe mô tô chạy về hướng cầu E, thị trấn E và rẽ vào khu vực đường đất rồi dừng lại, kiểm tra tài sản bên trong túi xách thấy có số tiền mặt 970.000 đồng tiền mặt và một số card điện thoại di động (gồm: 03 Card điện thoại di động Vietnamobile mệnh giá 20.000 đồng; 05 Card điện thoại di động Vietnamobile mệnh giá 50.000 đồng; 03 Card điện thoại di động Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng; 04 Card điện thoại di động Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng; 02 Card điện thoại di động Vmệnh giá 20.000 đồng; 01 Card điện thoại di động Mobifone mệnh giá 20.000 đồng). Tlấy tiền và C2điện thoại còn chiếc túi xách Tvứt xuống bờ mương.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 273/LKTTCT-PY, ngày 13/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của bà Lỡ Thị T12: 0%.
Quá trình điều tra còn xác định được, ngoài thực hiện vụ Cướp tài sản nêu trên, T13 thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác, cụ thể như sau:
- - Vụ thứ nhất: Trong thời gian làm nhân viên giao hàng cho Đại lý phân phối hàng tạp hóa cho bà Lưu Thị Bích N1(tổ dân phố E, thị trấn E, huyện E). Khoảng 02 giờ ngày 16/9/2023, T14 khiển xe mô tô BKS: 47K8- 2835 đi đến gần khu vực Đại lý của gia đình bà N3 mục đích trộm cắp tài sản. Thông trèo qua hàng rào đột nhập vào bên trong lấy trộm được 02 thùng thuốc lá nhãn hiệu Caraven (mỗi thùng có 50 cây, mỗi cây có 10 gói), gồm: 01 thùng Caraven Demi (thường gọi là thuốc Mèo nhỏ) và 01 thùng Caraven A C3(thường gọi là thuốc mèo lớn). Sau đó đem bán 10 cây thuốc lá Mèo lớn và 15 cây thuốc lá Mèo nhỏ cho bà Đoàn Thị N4 chủ tiệm tạp hóa “Nhàn trưng” (tổ dân phố G, thị trấn E), được số tiền 3.500.000 đồng; bán cho ông Nguyễn Văn Q1 tiệm tạp hóa “Hằng Q(tổ dân phố A, thị trấn E) 10 cây thuốc lá Mèo lớn và 10 cây thuốc lá Mèo nhỏ, được số tiền 3.000.000 đồng; Bán cho bà Nguyễn Thị Lệ D1 tiệm tạp hóa “Trang T4(tổ dân phố A, thị trấn E) 10 cây thuốc lá Mèo lớn và 15 cây thuốc lá Mèo nhỏ được số tiền 3.500.000 đồng; bán cho bà Từ Thị T15 T3chủ tiệm tạp hóa “Lâm Thúy” (tổ dân phố A, thị trấn E) 10 cây thuốc lá Mèo nhỏ, được số tiền 1.000.000 đồng. Số còn lại T16 cho nhiều người khác nhau, không nhớ được tên, tuổi, địa chỉ.
Tại kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS, ngày 24/01/2024, của Hội đồng định giá tài sản, kết luận: 01 thùng thuốc lá hiệu CARAVEN A C3thường gọi là thuốc mèo lớn, thời điểm định giá ngày 16/9/2023, có giá trị là 10.369.150 đồng; 01 thùng thuốc lá hiệu CARAVEN Demi, thường gọi là thuốc mèo nhỏ, thời điểm định giá ngày 16/9/2023, có giá trị là 6.580.200 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 16.949.350 đồng.
- - Vụ thứ hai: Vào khoảng 09 giờ ngày 12/10/2023, lợi dụng lúc quán tạp hóa “Liên Hưng” của bà T2không có người trông coi, T17 dùng 01 thanh sắt tròn dài khoảng 40cm, đường kính 03cm (thông nhặt ở đường) cạy khoá cửa bên hông nhà bà T2đột nhập vào bên trong, tìm kiếm lấy trộm bên trong tủ nhựa đựng quần áo; trong con heo đất và bên trong thùng nước lọc AQUAFINA được tổng số tiền là 27.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKS-HS ngày 04/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện EaH'Leo đã truy tố bị cáo về các tội “Cướp tài sản” với tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” theo điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng; bị cáo khai trong giai đoạn điều tra Dì của bị cáo là bà Trần Thị L1 thăm nuôi thì bị cáo đã tác động để bà L2 thường cho bà Lỡ Thị T18 tiền 970.000₫
Bà Lê Thị T19 rằng số tiền bà mất là từ khoảng 42.500.000 đồng đến 45.000.000 đồng, nhưng bà không cung cấp được chứng cứ nên bà yêu cầu bị cáo bồi thường 27.000.000 đồng như kết luận điều tra. Bị cáo đồng ý trả cho bà T20 đồng
Kết quả tranh luận tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Hoàng Anh T21 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Hoàng Anh T21 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 tội.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585 và 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Lê Thị T22 đồng. Quá trình điều tra vụ án, bà Trần Thị L(Dì ruột của bị cáo) đã bồi thường cho bà Lỡ Thị T1số tiền 970.000 đồng, hiện tại bà T1không có yêu cầu gì khác; Bà Lưu Thị Bích N5 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Xử lý vật chứng: Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại 18 Card điện thoại di động các loại, 01 túi xách bằng vải màu đen có dòng chữ “VOYAGER”, cho bà Lỡ Thị T12 chủ sở hữu hợp pháp và trả lại 01 xe mô tô biển số 47K8 - 2835, cho bà Trần Thị L3 chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 01 con dao bằng kim loại màu đen, dài 12cm; 01 áo khoác vải dài tay, màu xanh; 01 quần vải ka ki; 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 khẩu trang y tế màu xanh. Những đồ vật này không có giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
Khoảng 08 giờ ngày 11/11/2023, Lê Hoàng A Tđã có hành vi dùng vũ lực (dùng tay siết cổ và dùng dao đe doạ) chiếm đoạt của bà Lỡ Thị T(tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E) số tiền 970.000 đồng và một số Card điện thoại di động trị giá 600.000 đồng.
Ngoài ra trong quá trình điều tra, qua đấu tranh còn xác định được, trước đó, T17 02 lần trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể: Lần 1: khoảng 02 giờ ngày 16/9/2023, lợi dụng đêm khuya, T23 hành vi đột nhập vào đại lý của bà Lưu Thị Bích N1(tổ dân phố E, thị trấn E, huyện E 02 thùng thuốc lá C4(mỗi thùng có 50 cây, mỗi cây có 10 gói), giá trị 16.949.350 đồng. Lần 2: khoảng 09 giờ ngày 12/10/2023, tại tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, Tcó hành vi trộm cắp của gia đình bà Lê Thị T24 tiền 27.000.000 đồng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ nhận thức để biết được việc làm của mình là phạm tội, nhưng do ý thức xem thường pháp luật, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài, và mua ma tuý sử sụng nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi cướp tài sản có sử dụng Dao là phương tiện nguy hiểm, trong khi đang có 01 tiền án về tội phạm rất nghiêm trọng mà lại tiếp tục phạm tội mới rất nghiêm trọng nên hành vi của bị cáo phạm tội “cướp tài sản” với tình tiết định khung “sử dụng phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác” và “tái phạm nguy hiểm” theo d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Đối với hành vi “trộm cắp tài sản” phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Điều 168 Bộ luật Hình sự, quy định:
- Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác.
- Tái phạm nguy hiểm.
Điều 173 Bộ luật Hình sự, quy định:
- Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất ổn định về an ninh, trật tự tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách táo tợn giữa ban ngày, thể hiện sự ngang ngược liều lĩnh, coi thường pháp luật. Bị cáo phạm nhiều tội. Do vậy cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo một thời gian dài thì mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người biết tôn trọng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Đối với tội “cướp tài sản”, không có tình tiết tăng nặng; đối với tội “trộm cắp tài sản” có 02 tình tiết tăng nặng “phạm hai lần trở lên” và “tái phạm” điểm g, h khoản 1 Điều 52 BLHS.
[4] Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn cha mẹ chết sớm, bị cáo phải ở với Dì (điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS) các tình tiết này được áp dụng cho cả 02 tội. Riêng tội “Cướp tài sản” trong quá trình điều tra khi bà Trần Thị L(Dì ruột của bị cáo) thăm nuôi thì bị cáo tác động để bà L1bồi thường cho bà Lỡ Thị T25, nên được hưởng thêm tình tiết “tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả” điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS; tội “trộm cắp tài sản” được hưởng thêm tình tiết “phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS.
[5]. Về xử lý vật chứng: Việc cơ quan điều tra trả lại 18 Card điện thoại di động các loại, 01 túi xách bằng vải màu đen có dòng chữ “VOYAGER”, cho bà Lỡ Thị T12 chủ sở hữu hợp pháp là đúng pháp luật. Đối với 01 xe mô tô biển số 47K8 – 2835 là của bà Trần Thị L, bà L4 bị cáo mượn làm phương tiện đi lại nhưng không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho bà L3 đúng pháp luật.
Đối với 01 con dao bằng kim loại màu đen, dài 12cm; 01 áo khoác vải dài tay, màu xanh; 01 quần vải ka ki; 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 khẩu trang y tế màu xanh. Những đồ vật này không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bà Lê Thị T26 cầu bị cáo bồi thường 27.000.000 đồng và bị cáo chấp nhận, nên áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự: buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Lê Thị T22 đồng.
Bà Trần Thị L(Dì ruột của bị cáo) đã bồi thường cho bà Lỡ Thị T1số tiền 970.000 đồng, bà T1không có yêu cầu gì thêm; Bà Lưu Thị Bích N5 yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
[7]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với bà Đoàn Thị N1ông Nguyễn Văn Q2 Nguyễn Thị Lệ D2 Từ Thị Thanh T3có mua thuốc lá do bị cáo Lê Hoàng Anh T27 nhưng không biết đó là tài sản do phạm tội mà có, nên không có cơ sở để xử lý đối với những người này.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Lê Hoàng A Tphạm tội “Cướp tài sản” và “trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm d, h khoản 2 Điều 168; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xử phạt: Lê Hoàng A T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình:
Xử phạt: Lê Hoàng Anh T02 (hai) năm tù, về tội “trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 12/11/2023.
- Xử lý vật chứng: Chấp nhận việc cơ quan điều tra trả lại 18 Card điện thoại di động các loại, 01 túi xách bằng vải màu đen có dòng chữ “VOYAGER”, cho bà Lỡ Thị T12 chủ sở hữu hợp pháp; trả lại 01 xe mô tô biển số 47K8 – 2835 của bà Trần Thị L3 chủ sở hữu hợp pháp.
Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao bằng kim loại màu đen, dài 12cm; 01 áo khoác vải dài tay, màu xanh; 01 quần vải ka ki; 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 khẩu trang y tế màu xanh (đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/5/2024 giữa cơ quan Điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện EaH'Leo).
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Lê Thị T28 2 (hai mươi bảy triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu Thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.350.000đ (một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; Người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Long |
Bản án số 54/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK về vụ án hình sự
- Số bản án: 54/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng Anh T thực hiện hành vi cướp tài sản và trộm cắp tài sản
