Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05/7/2024

V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Văn Ức;
  2. Ông Phạm Thế Phương.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Mộng Thu - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Huy Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 91/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/3/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Tổ A, ấp V, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang;
  • Chỗ ở hiện nay: Số C, T, phường T, quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh; (có mặt)
  • - Bị đơn: Ông Trần Bảo H, sinh năm 1974; địa chỉ cư trú: Tổ F, ấp P, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang; (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 15/3/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Bích T bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Giữa tôi với ông Trần Bảo H do người lớn mai mối, được cha mẹ hai bên đồng ý, chúng tôi tổ chức lễ cưới vào năm 1998. Chúng tôi không có đi đăng ký kết hôn.

Thời gian đầu vợ chồng sống chung có hạnh phúc được 4 năm. Qua thời gian chung sống thì có xảy ra mâu thuẫn như bất đồng quan điểm, thường xảy ra cự cãi nhau, mặt khác do một phần mẹ chồng khắc khe, thường xảy ra lủng củng mà đỉnh điểm là năm 2002 thì xảy ra cự cãi nhau nên tôi bỏ đi cho đến nay.

Nhận thấy tôi và ông H sống chung không phù hợp, vợ chồng không còn thương yêu quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn ông Trần Bảo H.

- Về nuôi con chung: Tôi với ông Bảo H có 01 đứa con chung tên Trần Bảo K, sinh ngày 13/4/2000, con đã trưởng thành.

- Về tài sản chung: Không có, Không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Trần Bảo H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Giữa tôi với bà Nguyễn Thị Bích T do người lớn mai mối, được cha mẹ hai bên đồng ý, chúng tôi tổ chức lễ cưới vào năm 1998. Chúng tôi không có đi đăng ký kết hôn.

Thời gian đầu vợ chồng sống chung có hạnh phúc được 4 năm. Qua thời gian chung sống thì có xảy ra mâu thuẫn như bất đồng quan điểm, thường xảy ra cự cãi nhau, mặt khác một phần do bà T không đáp ứng được yêu cầu của mẹ tôi, thường xảy ra cự cãi đến năm 2002 bà T bỏ đi cho đến nay.

Nhận thấy tôi và bà T sống chung không phù hợp, vợ chồng không còn thương yêu quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Tôi đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T.

- Về nuôi con chung: Tôi với bà T có 01 đứa con chung tên Trần Bảo K, sinh ngày 13/4/2000, con đã trưởng thành.

- Về tài sản chung: Không có, Không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Biên bản xác minh ngày 06/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã L cung cấp về tình trạng hôn nhân của bà Nguyễn Thị Bích T với ông Trần Bảo H thể hiện: Qua tra cứu hồ sơ lưu tại Văn phòng UBND xã L, thị xã T, tỉnh An Giang không tìm thấy hồ sơ lưu đăng ký kết hôn giữa bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1975 với ông Trần Bảo H, sinh năm 1974, cư trú tại tổ F, ấp P, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang.

Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải nhưng không thành.

Hội đồng xét xử công bố biên bản minh ngày 06/5/2024 của UBND xã L

Tại phiên tòa, bà Bích T và ông Bảo H giữ nguyên yêu cầu.

Bà bà Bích T và ông Bảo H xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Bích T và ông Trần Bảo H không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, năm 2002 giữa bà T và ông Bảo H có phát sinh mâu thuẫn. Bà Bích T với ông Bảo H do không có đăng ký kết hôn. Căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị tuyên bố bà Bích T với ông Bảo H không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ, vợ chồng.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Bích T với ông Bảo H có 01 con chung tên Trần Bảo K, sinh ngày 13/4/2000, đã trưởng thành.

Về tài sản và nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Bích T khởi kiện “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” với Trần Bảo H, sinh năm 1974; địa chỉ cư trú: Tổ F, ấp P, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.

Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Bích T với ông Trần Bảo H không có đăng ký kết hôn vẫn được pháp luật xem xét.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Nguyễn Thị Bích T với ông Trần Bảo H do người lớn mai mối, được cha mẹ hai bên đồng ý, hai người tổ chức lễ cưới vào năm 1998. Không có đi đăng ký kết hôn.

Thời gian đầu hai người sống chung có hạnh phúc được 4 năm. Qua thời gian chung sống thì có xảy ra mâu thuẫn như bất đồng quan điểm, thường xảy ra cự cãi nhau, mặt khác do một phần mẹ chồng khắc khe, thường xảy ra lủng củng mà đỉnh điểm là năm 2002 thì xảy ra cự cãi nhau nên bà T bỏ đi cho đến nay.

Bà Bích T nhận thấy, bà với ông Bảo H sống chung không phù hợp, vợ chồng không còn thương yêu quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Trần Bảo H.

Ông bảo H đồng ý ly hôn với bà Bích T

Biên bản xác minh ngày 06/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã L cung cấp về tình trạng hôn nhân của bà Nguyễn Thị Bích T với ông Trần Bảo H thể hiện: Qua tra cứu hồ sơ lưu tại Văn phòng UBND xã L, thị xã T, tỉnh An Giang không tìm thấy hồ sơ lưu đăng ký kết hôn giữa bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1975 với ông Trần Bảo H, sinh năm 1974, cư trú tại tổ F, ấp P, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang.

Theo khoản 2 Điều 17, Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp,... và lý do chính đáng khác”;

“Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”.

Theo khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “Nam, nữ đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định của luật này chung sống với nhau như vợ, chồng mà không có đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ vợ và chồng......";

Bà Nguyễn Thị Bích T với ông Trần Bảo H không có đăng ký kết hôn.

Căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét, quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Bích T với ông Trần Bảo H không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ vợ và chồng.

[3] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Bích T và ông Bảo H có 01 con chung tên Trần Bảo K, sinh ngày 13/4/2000, con đã trưởng thành. Do đó; Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bích T với ông Trần Bảo H thống nhất hai người không có tài sản và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Bích T được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007874 ngày 21/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;

Ông Trần Bảo H không phải chịu tiền án phí hôn nhân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích T.

Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Bích T với ông Trần Bảo H không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ vợ và chồng;

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Bích T và ông Trần Bảo H có 01 con chung tên Trần Bảo K, sinh ngày 13/4/2000, con đã trưởng thành.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Bích T được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007874 ngày 21/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;

Ông Trần Bảo H không phải chịu tiền án phí hôn nhân.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND TX (2);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Thi hành án DS TX (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Ngô Thế Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T yêu cầu ly hôn với B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger