|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 54/2024/DS-PT Ngày: 04 - 6 - 2024 V/v: Tranh chấp về chia tài sản chung, Chia di sản thừa kế. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Thẩm phán:
- Bà Trần Thị Thuý Ngọc
- Bà Nguyễn Thị Hải Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang; Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06/5/2024 và 04/6/2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2023/TLPT - DS ngày 28 tháng 12 năm 2023, về việc: Tranh chấp về chia tài sản chung, chia di sản thừa kế.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐPT-DS ngày 01/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/QĐPT-DS ngày 23/4/2024 và quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/QĐPT-DS ngày 06/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị C, sinh năm 1997; Địa chỉ: Khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Lê Đức T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Bà Thái Thị L, sinh năm 1973
Địa chỉ: Xóm F, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Văn K, sinh năm 1939; Địa chỉ: Xóm T (xóm H cũ), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Phan Như Q; sinh năm: 1998; Vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Phan Thị T1; sinh năm 2001; Vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Phan Thanh T2; sinh ngày: 07/9/2009; Vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Phan Tiến Đ; sinh ngày: 17/01/2012; Vắng mặt tại phiên tòa
Đều trú tại địa chỉ: Xóm F, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn K, chị Phan Như Q, Phan Thị T1, Phan Thanh T2, Phan Tiến Đ: Bà Thái Thị L, sinh năm 1973; Địa chỉ: Xóm F, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Anh Trần Đình L1; Địa chỉ: khối B thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn S; Địa chỉ: K thị trấn Y, huyện Y; Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
* Người kháng cáo:
- Chị Phan Thị C, sinh năm 1997; Địa chỉ: Khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Là: Nguyên đơn trong vụ án.
- Bà Thái Thị L, sinh năm 1973; Địa chỉ: Xóm F, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Là: Bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ông Phan Văn C1 và bà Phạm Thị T3 kết hôn năm 1996 sinh được một người con Phan Thị C. Do chung sống không hạnh phúc nên ông C1, bà T3 đã được Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn giải quyết ly hôn tại Bản án số 14/2019/HNGĐ-ST ngày 06/6/2019. Ngày 07/01/2020 ông Phan Văn C1 chết không để lại di chúc, di sản thừa kế để lại mà ông C1 tạo lập được hiện nay bà Thái Thị L đang quản lý là 03 thửa đất:
- Thửa đất số: 34, tờ bản đồ số 09 tại khối A (nay là khối C), thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Diện tích 361m² (200m² đất ở, 161m² đất TCLN) được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số BX 628252 ngày 16/6/2015 mang tên Phan Văn C1 và bà Thái Thị L.
- Thửa đất số: 33, tờ bản đồ số 09 tại khối A (nay là khối C), thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Diện tích 117m² đất ở được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ SỐ CD 762784 ngày 14/4/2016 mang tên Phan Văn C1 và bà Thái Thị L.
- Thửa đất lô 1103, tờ bản đồ số 00 QH 2012 tại khu Q thị trấn Y. Diện tích 141m² đất ở được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số CD 705703 mang tên Phan Văn C1 và bà Thái Thị L. Hiện nay bà Thái Thị L đang cho anh Trần Đình L1 thuê làm ki ốt quán bán hàng.
Tại đơn khởi kiện nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, Nghệ An chia di sản thừa kế theo pháp luật (1/2 tài sản trên) cho hàng thừa kế. Tại đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 11/10/2022 nguyên đơn bổ sung yêu cầu chia thừa kế đối với ba thửa đất đã nêu trong đơn khởi kiện ban đầu và bổ sung thêm 2 thửa đất số hiệu phát hành X249229 diện tích 89m² mang tên ông Phan Văn C1 và Thái Thị L, thửa đất số CS 609397 diện tích 143m² mang tên Phan Văn C1 và Thái Thị L, địa chỉ: xóm F xã T, huyện Y và 01 chiếc xe máy SH mang tên ông Phan Văn C1. Tuy nhiên tại các buổi làm việc tại Tòa án nguyên đơn đề nghị chia tài sản chung và chia di sản thừa kế theo pháp luật ½ các tài sản là 3 thửa đất nói trên cho các hàng thừa kế và nguyện vọng được chia bằng tiền, cụ thể là trường hợp bị đơn thỏa thuận thì nguyên đơn yêu cầu được thanh toán 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng). Tại phiên tòa đề nghị xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Thái Thị L trình bày: ông Phan Văn C1 và bà Phạm Thị T3 chung sống với nhau 4 tháng, xảy ra mâu thuẫn xuất phát từ sự việc người yêu cũ của bà T3 có chém ông Phan Văn C1 bị thương ở tay phải. Sau đó ông Phan Văn C1 và bà Phạm Thị T3 đã bỏ nhau, không có ý thức xây dựng hôn nhân gia đình nữa. Ông Phan Văn C1 đến chung sống với bà L tại xã T, huyện Y. Tuy nhiên đến năm 2019 ông Phan Văn C1 và bà Phạm Thị T3 mới làm thủ tục ly hôn theo bản án ngày 6/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn. Thời gian ông C1 lấy bà thì ông C1 do bị thương ở tay sức khỏe giảm sút không có khả năng lao động (mất một tay), ông chỉ phụ giúp việc vặt trong nhà chứ không trực tiếp làm ăn buôn bán kinh doanh được. Mọi việc làm ăn kinh tế đều do một mình bà. Nguồn gốc 3 thửa đất trên đều do bà tạo dựng công việc kinh doanh buôn bán từ năm 1992, trước khi sống chung với ông C1, cụ thể là: Bà Thái Thị L làm nghề buôn bán kinh doanh từ rất sớm, trước khi chung sống với ông C1 bà đã tích lũy được rất nhiều vốn và tài sản. Thửa đất hiện nay bà đang làm nhà và làm ốt kinh doanh tại xóm F xã T (thửa số 288 tờ bản đồ số 16) có nguồn gốc là đất được nhà nước giao mượn mở quán kinh doanh năm 1992, trước khi cưới ông C1 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên bà Thái Thị L. Năm 2004 bà mua mảnh đất số 34 tờ bản đồ số 9 nay là khối C thị trấn Y của anh Vương Văn H và chị Nguyễn Thị N với giá 70.000.000 đồng, đến năm 2014 có quy hoạch làm đường 534 gia đình bà được đền bù tái định cư số tiền 564.192.000 đồng, bà lấy số tiền đó mua thửa số 33 tờ bản đồ số 09. Năm 2018 bà tiếp tục vay mượn mua của ông Thái Hữu N1 sau đó chuyển nhượng lại với giá cao và đầu tư mảnh 1103 tờ bản đồ 00 tại nam Đài truyền hình. Đối với việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cả ông C1 thì bà cho rằng sau khi mua được 2 thửa đất bà L cần thêm vốn trả nợ cá nhân và làm ăn nên bà muốn vay vốn ngân hàng. Nhưng thời điểm đó nhiều người tư vấn phải có giấy chứng nhận kết hôn nên bà và ông Phan Văn C1 đã nhờ UBND xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn mục đích là để vay vốn.
Mặt khác, trước khi mất, tại Bản di chúc ông Phan Văn C1 chỉ để lại di sản thừa kế cho 4 người con chung của bà và ông C1, không đề cập đến chị C và quá trình chung sống với bà, ông Phan Văn C1 cũng chưa bao giờ nhắc đến việc có con chung với bà Phạm Thị T3 và bà cũng chưa bao giờ thấy chị C đến thăm ông C1 ngay cả khi ông bị bệnh hiểm nghèo và chết. Vì lẽ đó bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Tòa án giải quyết chia tài sản chung theo quy định pháp luật còn chia thừa kế bà đề nghị chia theo di chúc, trường hợp di chúc không hợp pháp đề nghị chia theo pháp luật và tính đến công sức tôn tạo đóng góp của bà và các tài sản bà đã xây dựng sau khi ông C1 chết. Còn nếu thỏa thuận thì bà Thái Thị L chỉ chấp nhận hỗ trợ cho nguyên đơn 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn K trình bày: ông là bố ruột của ông Phan Văn C1. Quá trình ông C1 lấy bà T3 chỉ 4 tháng, do mâu thuẫn dẫn đến ông C1 bị người yêu cũ bà T3 chém đứt một tay phải mất khả năng lao động, mọi việc đều nhờ bà Thái Thị L chứ con trai ông không làm được gì chỉ phụ việc vặt trong gia đình. Kinh tế chủ yếu là do bà Thái Thị L làm ra, trước khi lấy ông C1, bà L đã làm ăn buôn bán và có đất tài sản nhiều chứ không phải do ông C1 làm ra.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Phan Như Q, chị Phan Thị T1, chị Phan Thanh T2, anh Phan Tiến Đ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa chia theo di chúc, trường hợp di chúc không hợp lệ đề nghị chia theo quy định pháp luật, xem xét đến công sức đóng góp của mẹ các anh, chị là bà Thái Thị L vì các tài sản chủ yếu từ công sức của bà L gây dựng, bố ốm đau bệnh tật không giúp được gì nhiều. Trường hợp được nhận thừa kế chị Q, chị T1, cháu T2, cháu Đ có nguyện vọng nhận bằng tiền.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Đình L1, anh Nguyễn Văn S tại bản tự khai và đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt trình bày: Những người này hiện nay đang thuê ki-ốt tại phần đất sở hữu chung của ông C1 và bà L. Bà Thái Thị L là người trực tiếp cho những người này thuê nhà. Tại thời điểm thuê nhà, hai bên không lập hợp đồng thuê nhà. Trong thời gian thuê nhà, những người này không xây dựng thêm công trình gì trên phần đã thuê. Ông Trần Đình L1 và anh Nguyễn Văn S không có yêu cầu độc lập và không có ý kiến gì, đề nghị xét xử vắng mặt.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
- Căn cứ vào khoản 2, khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 164, Điều 165, Điều 169, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 609, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 623,630, 634,636 Điều 649, 650, 651, 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị C.
Về phân chia tài sản chung: Tài sản chung của ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L là quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 34, tờ bản đồ số 09 tại khối A (nay là khối C), thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Diện tích 361m² (200m² đất ở, 161m² đất TCLN) được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số BX 628252 ngày 16/6/2015 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L.
Thửa đất số: 33, tờ bản đồ số 09 tại khối A (nay là khối C), thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Diện tích 117m² đất ở được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ SỐ CD 762784 ngày 14/4/2016 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L.
Thửa đất lô 1103, tờ bản đồ số 00 QH 2012 tại Khu Q thị trấn Y. Diện tích 141m² đất ở được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số CD 705703 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L.
Chia cho bà Thái Thị L được hưởng 80% giá trị các quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất nói trên là 5.227.292.20 đồng. Ông Phan Văn C1 được hưởng 20% x 6.534.124.000 = 1.306.824.80 đồng.
* Phân chia di sản thừa kế: Về di sản thừa kế của ông Phan Văn C1 là 20% quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số: 34, tờ bản đồ số 09 tại khối A (nay là khối C), thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Diện tích 361m² (200m² đất ở, 161m² đất TCLN) được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số BX 628252 ngày 16/6/2015 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L. Thửa đất số: 33, tờ bản đồ số 09 tại khối A (nay là khối C), thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Diện tích 117m² đất ở được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số CD 762784 ngày 14/4/2016 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L. Thửa đất lô 1103, tờ bản đồ số 00 QH 2012 tại Khu Q thị trấn Y. Diện tích 141m² đất ở được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số CD 705703 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị Lương
Ông Phan Văn C1 được hưởng 20% tổng giá trị ba thửa đất = 1.306.824.80 đồng.
Về hàng thừa kế của ông Phan Văn C1 gồm 6 người: ông Phan Văn K, chị Phan Thị C, Phan Như Q, Phan Thị T1, Phan Thanh T2, Phan Tiến Đ. Những người thuộc hàng thừa kế được hưởng 1 kỳ phần thừa kế di sản của ông Phan Văn C1. Bà Thái Thị L được tính công sức tôn tạo đóng góp bằng 1 kỷ phần thừa kế. Được chia bằng tiền cụ thể: Di sản thừa kế của ông Phan Văn C1: 1.306.824.80/7 = 186. 689.000 đồng.
Giao cho bà Thái Thị L được quyền quản lý, sở hữu quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số: 34, tờ bản đồ số 09 tại khối A (nay là khối C), thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Diện tích 361m² (200 m² đất ở, 161 m² đất TCLN) được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số BX 628252 ngày 16/6/2015 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L. Thửa đất số: 33, tờ bản đồ số 09 tại khối A (nay là khối C), thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Diện tích 117m² đất ở được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số CD 762784 ngày 14/4/2016 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L. Thửa đất lô 1103, tờ bản đồ số 00 QH 2012 tại Khu Q thị trấn Y. Bà Thái Thị L có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và sản khác gắn liền với đất đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và sản khác gắn liền với đất số BX 628252 ngày 16/6/2015 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và sản khác gắn liền với đất số số BX 628252 ngày 16/6/2015 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L, GCNQSDĐ SỐ CD 705703 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khi làm thủ tục theo quy định pháp luật.
Bà Thái Thị L có trách nhiệm thanh toán cho ông Phan Văn K, chị Phan Thị C, chị Phan Như Q, chị Phan Thị T1, chị Phan Thanh T2, anh Phan Tiến Đ mỗi người 01 kỷ phần thừa kế là 186.689.000 đồng.
Giao cho bà Thái Thị L quản lý số tiền của chị Phan Thanh T2, anh Phan Tiến Đ đến khi các anh chị đủ 18 tuổi trưởng thành.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn chị Phan Thị C về việc chia tài sản chung thửa đất số hiệu phát hành X249229 diện tích 89m² mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L, thửa đất số CS 609397 diện tích 143m² mang tên ông Phan Văn C1 và Thái Thị L, địa chỉ: xóm F xã T, huyện Y và 01 chiếc xe máy SH mang tên ông Phan Văn C1 theo đơn khởi kiện bổ sung.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, lãi suất do chậm thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02 tháng 10 năm 2023 bị đơn bà Thái Thị L kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm vụ án theo một trong hai yêu cầu sau đây:
Thứ nhất: sửa án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì lý do:
- Ngoài Giấy khai sinh của bà Phan Thị C ghi tên cha đẻ là ông Phan Văn C1 do bà Phan Thị T4 đi khai sinh, không có tài liệu nào nguyên đơn chứng minh chị C là con đẻ của ông C1. Bà L cũng không nghe ông C1 nói chị C là con đẻ của ông C1.
- Khi bà T4, ông C1 ly hôn tại Tòa án huyện N, bà T4 cũng không đề cập việc chia tài sản cho chị C (khi đó ông C1 đã lấy bà L).
- Ông C1 đã lập di chúc chia tài sản, trong đó không có việc chia di sản cho chị C, không đoái hoài, phúng viếng ông C1.
Thứ hai, nếu Tòa án cho rằng chị C là con ông C1, không chấp nhận di chúc thì đề nghị Tòa án tỉnh Nghệ An sửa Bản án sơ thẩm, giảm số tiền giá trị bà C được hưởng. Bà L chấp nhận hỗ trợ cho chị C khoảng 50 – 60 triệu đồng, vì các lý do sau:
- Toàn bộ tài sản chị C yêu cầu chia thừa kế, chủ yếu là công sức, tiền của bà L làm ra, ông C1 bị người khác chém gần lìa cánh tay phải, bị giảm rất nhiều khả năng lao động. Nhiều tài sản có nguồn gốc từ trước khi bà lấy ông C1.
- Từ khi ông C1 lấy bà và từ khi chị C được sinh ra chưa một ngày nào ở chung với ông C1 và bà L, huống gì là có công sức xây dựng, mua sắm tài sản.
- Ông K (bố ông C1) có công rất lớn trong việc điều trị, chăm sóc ông C1 khi bị người khác gây thương tích.
- Các con chung của bà và ông C1 gồm: Cháu Q, T1, T2, Đ có công sức giúp đỡ đóng góp cho cha mẹ trong nhà và việc kinh doanh mua bán hàng hóa của bà.
- Tòa án cấp sơ thẩm chia phần giá trị thừa kế của chị C ngang với các con chung của bà và ông C1 là không đúng pháp luật, không công bằng. Vì thực tế chị C không có công sức, tiền của để xây dựng, mua sắm tài sản, chị C chưa bao giờ ở chung một ngày với ông C1 và bà, không những thế còn thiếu quan tâm, thiếu tình cảm ruột rà với ông C1. Ngoài ra, bà đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xem xét miễn giảm án phí cho bà và các con chung của bà và ông C1.
Ngày 04/10/2023 nguyên đơn trong vụ án là chị Phan Thị C kháng cáo Bản án ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành với lý do: bản án chưa nhận định đúng quan hệ tài sản, chưa xác định đúng nguồn gốc hình thành tài sản; chưa xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên tuyên án chưa đảm bảo quyền lợi hợp pháp của chị.
Chị yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết những việc sau đây:
- Xác định đúng quan hệ tài sản giữa ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L.
- Xác định đúng nguồn gốc hình thành tài sản: yêu cầu chia cho ông C1 được hưởng 80% trong khối tài sản chung giữa ông C1 và bà L.
- Xác định đúng nghĩa vụ về án phí của mỗi người trong việc chia tài sản chung giữa ông C1 và bà L.
- Không công nhận phần công sức của bà L trong việc tôn tạo, bảo quản tài sản chung của ông C1 và bà L sau khi ông C1 chết. Xem xét quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của người bảo quản di sản trước khi việc phân chia di sản có hiệu lực.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Thái Thị L vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt); người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Phan Thị C là anh Lê Đức T đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của chị C. Đồng thời, bổ sung thêm nội dung kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định, tại chỗ và định giá tài sản; đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm về cách tuyên đối với phần yêu cầu khởi kiện bổ sung của chị Phan Thị C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo: Kháng cáo của bà Thái Thị L, chị Phan Thị C đúng thời hạn và đã nộp tiền tạm ứng án phí đầy đủ nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý là đúng quy định. Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự:
- + Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Phan Thị C: sửa Bản án sơ thẩm về nội dung phân chia tài sản, về việc trích công sức của bà L trong việc tôn tạo, bảo quản tài sản chung của ông C1 và bà L sau khi ông C1 chết; về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và án phí.
- + Không chấp nhận kháng cáo của bà Thái Thị L.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Phan Thị C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật, bà Thái Thị L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về chia tài sản chung, chia di sản thừa kế thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành theo quy định tại khoản 2, khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Thái Thị L, nguyên đơn chị Phan Thị C có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 06/5/2024, Hội đồng xét xử đã hỏi ý kiến của các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không nhưng sau đó các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- [2]. Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn chị Phan Thị C, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- [2.1]. Về nội dung kháng cáo xác định đúng quan hệ tài sản giữa ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L, Hội đồng xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa các bên đương sự đều thống nhất trình bày: Ông Phan Văn C1 và bà Phạm Thị T3 kết hôn vào ngày 14/11/1996, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nên đến tháng 3/1997 thì ông C1 và bà T3 đã sống ly thân. Sau khi ông C1 và bà T3 sống ly thân, từ cuối năm 1997, đầu năm 1998 ông C1 đã sống chung như vợ chồng với bà L, có với nhau 4 người con chung và có tạo lập tài sản chung. Đến ngày 06/6/2019, ông C1 và bà T3 ly hôn theo Bản án số 14/2019/HNGĐ-ST của Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn. Tại phiên toà, các đương sự đều thừa nhận sau khi Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử sơ thẩm cho ông C1 và bà T3 được ly hôn thì các đương sự đều không kháng cáo nên Bản án đã có hiệu lực. Sau khi ông C1 và bà T3 ly hôn, ngày 07/01/2020 ông C1 chết, đến ngày 22/5/2020 chị C có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế. Quá trình giải quyết vụ án, tuy bà L có xuất trình đăng ký kết hôn giữa bà L và ông C1 vào ngày 13/6/2015 tại UBND xã T nhưng do trong thời gian này ông C1 và bà T3 vẫn là vợ chồng, chưa ly hôn nên cấp sơ thẩm xác định chia tài sản chung giữa ông C1 và bà L từ thời điểm sống chung đến khi Bản án số 14/2019/HNGĐ-ST của Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn có hiệu lực pháp luật là chia tài sản chung theo phần dựa trên công sức đóng góp của các bên trong thời gian sống chung, không phân chia tài sản chung vợ chồng là có căn cứ, phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự nên nội dung kháng cáo này của nguyên đơn là không có căn cứ để chấp nhận.
- [2.2]. Về nội dung kháng cáo xác định đúng nguồn gốc hình thành tài sản, yêu cầu chia cho ông C1 được hưởng 80% trong khối tài sản chung giữa ông C1 và bà L: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì nguồn gốc hình thành 03 thửa đất mà nguyên đơn đang yêu cầu phân chia di sản thừa kế là được tạo lập trong thời gian sống chung giữa bà L và ông C1, trong đó thửa đất số 33, tờ bản đồ số 09 là được bà L, ông C1 mua vào ngày 06/9/2004 của anh Vương Văn H. Sau đó, đến ngày 02/5/2015 thì ông C1, bà L mua thửa đất số 34 tờ bản đồ số 09 tại thị trấn Y, huyện Y của bà Nguyễn Thị M và đến ngày 15/3/2019 mua thửa đất số 1103, tờ bản đồ số 00 tại nam Đài truyền hình thuộc khối B, thị trấn Y của ông Cù Minh S1 và bà Nguyễn Thị L2. Tại phiên toà, nguyên đơn cho rằng ông C1 có công sức đóng góp nhiều hơn nhưng không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Trong khi đó, các đương sự đều thừa nhận tại thời điểm sống chung với bà L, ông C1 đã bị thương tật do bị chém vào tay từ năm 1997; từ thời điểm năm 2019 ông C1 lại bị phát hiện là ung thư dạ dày giai đoạn cuối, sức khoẻ kém; quá trình sinh sống ông C1 cũng là lao động tự do, cùng bà L buôn bán kinh doanh chứ không có công việc riêng; việc buôn bán kinh doanh của bà L đã có từ trước khi bà L sống chung với ông C1, trước khi sống chung bà L đã có cửa hàng kinh doanh tạp hoá tại thửa đất số 228, tờ bản đồ số 16, gần cống Cửa Ngòi, xóm F, xã T, huyện Y. Nguồn gốc số tiền mua thửa đất số 33, tờ bản đồ số 9 là do được nhà nước đền bù tái định cư khi Quy hoạch làm đường 534 đối với thửa đất số 228 mà bà L đã có trước khi sống chung với ông C1. Do đó, cấp sơ thẩm xác định công sức đóng góp của bà L lớn hơn công sức đóng góp của ông C1 là có căn cứ. Tuy nhiên, ông C1 sống chung cùng bà L từ năm 1997, đến năm 2020 khi ông C1 chết là đã gần 25 năm, trong khoảng thời gian đó ông C1 buôn bán kinh doanh cùng bà L do đó cấp sơ thẩm phân chia cho ông C1 được hưởng 20% trong khối tài sản chung giữa ông C1 và bà L là chưa phù hợp mà cần căn cứ vào thời gian sống chung, công sức đóng góp của ông C1 trong quá trình buôn bán kinh doanh để xác định cho ông C1 được hưởng 35%, bà L được hưởng 65% trong khối tài sản chung giữa ông C1 và bà L nên cần chấp nhận một phần nội dung kháng cáo này của nguyên đơn.
- [2.3]. Về nội dung kháng cáo không công nhận phần công sức của bà L trong việc tôn tạo, bảo quản tài sản chung của ông C1 và bà L sau khi ông C1 chết, xem xét quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của người bảo quản di sản trước khi việc phân chia di sản có hiệu lực, Hội đồng xét thấy: Khi xem xét phân chia khối tài sản chung giữa ông C1 và bà L, cấp sơ thẩm đã xem xét đến công sức đóng góp để phân chia cho bà L phần nhiều hơn nên khi xem xét phân chia di sản thừa kế của ông C1, cấp sơ thẩm lại trích công sức thêm một lần nữa cho bà L được hưởng bằng 1 suất thừa kế của ông C1 là không phù hợp, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đồng thừa kế khác nên nội dung kháng cáo này của bị đơn là có cơ sở để chấp nhận. Tuy nhiên, khi xem xét những người thuộc hàng thừa kế của ông Phan Văn C1, Hội đồng xét xử xét thấy: tại thời điểm năm 1997, ông C1 bắt đầu sống chung như vợ chồng với bà L thì quan hệ hôn nhân giữa ông C1 và bà T3 chưa chấm dứt nên việc đăng ký kết hôn giữa ông C1 và bà L vào ngày 13/6/2015 tại UBND xã T, huyện Y là không đáp ứng các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Đến ngày 06/6/2019, ông C1 và bà T3 ly hôn theo Bản án số 14/2019/HNGĐ-ST của Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, đương sự đều thừa nhận sau khi Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử sơ thẩm cho ông C1 và bà T3 được ly hôn thì các đương sự đều không kháng cáo nên bản án đã có hiệu lực. Sau khi ông C1 và bà T3 ly hôn, ngày 07/01/2020 ông C1 chết, các đương sự cũng thừa nhận đến thời điểm ông C1 chết chưa có một bản án, quyết định nào huỷ việc kết hôn trái pháp luật ngày 13/6/2015 tại UBND xã T, huyện Y. Do bản án, quyết định về việc ly hôn giữa ông C1 và bà T3 đã có hiệu lực từ thời điểm năm 2019 nên tại thời điểm năm 2020 (thời điểm ông C1 chết) thì quan hệ hôn nhân giữa ông C1 và bà L đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình; mục 5 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP nên cần xác định bà L là người được hưởng thừa kế của ông C1 theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự. Do đó, có cơ sở để xác định những người được hưởng di sản thừa kế của ông C1 là 7 người (ông K, bà L, chị C, chị Q, chị T1, chị T2, anh Đ) nên bà L được hưởng một suất thừa kế của ông C1 chứ không phải là trích công sức cho bà L được hưởng bằng 1 suất thừa kế của ông C1 như cấp sơ thẩm đã xác định.
Mặt khác, khi phân chia di sản thừa kế của ông C1, cấp sơ thẩm xác định giá trị tài sản của ông C1 và bà L là 6.534.124.000 đồng là có nhầm lẫn về mặt số liệu, tổng giá trị ba thửa đất số 33, 34 và 1103 chỉ là 6.064.500.000 đồng nên cần xác định phần tài sản mà ông C1 được hưởng trong khối tài sản chung với bà L là 6.064.500.000 đồng x 35% = 2.122.575.000 đồng; phần giá trị tài sản mà bà L được hưởng trong khối tài sản chung với ông C1 là 6.064.500.000 đồng x 65% = 3.941.925.000 đồng. Trong đó, kỳ phần mỗi đồng thừa kế của ông Phan Văn C1 được hưởng là: 2.122.575.000 đồng : 7 = 303.225.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, chị C có nguyện vọng được nhận bằng tiền do đó khi phân chia cho bà L được hưởng các tài sản bằng hiện vật, cần buộc bà L trích chia di sản thừa kế cho chị C là 303.225.000 đồng nên cần chấp nhận một phần nội dung kháng cáo này của nguyên đơn.
Về nội dung xem xét quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của người bảo quản di sản trước khi việc phân chia di sản có hiệu lực, buộc bà L bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ của người quản lý di sản thì tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là anh Lê Đức T cũng thừa nhận quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn không có yêu cầu này, đến tại cấp phúc thẩm mới yêu cầu là vượt quá phạm vi xét xử phúc thẩm nên cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị Phan Thị C có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác về việc buộc bà L bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ của người quản lý di sản theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế đối với thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số hiệu phát hành X249229 diện tích 89m² mang tên ông Phan Văn C1 và Thái Thị L, thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 609397 diện tích 143m² mang tên Phan Văn C1 và Thái Thị L và 01 chiếc xe máy SH đã được cấp đăng ký xe mang tên ông Phan Văn C1. Cấp sơ thẩm nhận định nguyên đơn đưa ra yêu cầu khởi kiện bổ sung sau thời điểm mở phiên họp công khai chứng cứ nên không xem xét, giải quyết là chính xác, phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng tại phần quyết định, cấp sơ thẩm lại quyết định: “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn chị Phan Thị C về việc chia tài sản chung thửa đất số hiệu phát hành X249229 diện tích 89 m2 mang tên ông Phan Văn C1 và Thái Thị L, thửa đất số CS 609397 diện tích 143 m2 mang tên Phan Văn C1 và Thái Thị L, địa chỉ: xóm F xã T, huyện Y và 01 chiếc xe máy SH mang tên ông Phan Văn C1 theo đơn khởi kiện bổ sung” là không chính xác. Do đó, cấp phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng cáo bổ sung này của nguyên đơn, sửa lại cách tuyên tại phần này để đảm bảo quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác của nguyên đơn nhưng cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
- Về nội dung kháng cáo xác định đúng nghĩa vụ án phí của mỗi người trong việc chia tài sản chung giữa ông C1 và bà L: Cấp sơ thẩm phân chia phần di sản cho chị C được hưởng là 186.689.000 đồng nên buộc chị C phải chịu 9.334.000 đồng án phí trên phần giá trị tài sản được phân chia là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nhưng lại buộc chị C phải chịu 300.000 đồng án phí chia tài sản chung và cũng chỉ buộc bà L phải chịu 9.334.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong khi phân chia cho bà L toàn bộ phần tài sản còn lại là chưa chính xác, chưa phù hợp với Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên cấp phúc thẩm cần chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn, sửa lại án phí cho phù hợp với quy định của pháp luật. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm, có căn cứ để phân chia phần tài sản mà ông C1 được hưởng trong khối tài sản chung với bà L là lớn hơn nên kỷ phần mỗi đồng thừa kế được hưởng sẽ nhiều hơn do đó cần sửa án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần giá trị tài sản mà mỗi đương sự được phân chia. Trong đó, phần án phí mà mỗi đồng thừa kế của ông C1 phải chịu là 303.225.000 đồng x 5% = 15.161.250 đồng. Giá trị phần tài sản còn lại mà bà Phan Thị L3 được phân chia là (3.941.925.000₫ + 303.225.000₫ = 4.245.150.000) nên bà L3 phải chịu 112.245.150 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về chi phí tố tụng: Bản án sơ thẩm xác định tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 4.500.000 đồng nhưng lại phân chia cho bà Thái Thị L, chị Phan Thị Q1, chị Phan Thị T1 mỗi người phải thanh toán lại cho chị C 750.000 đồng là không chính xác về mặt số liệu và cũng không đúng quy định về số người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự, cấp phúc thẩm phân chia lại nhưng về những nội dung này cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Trong đó, tỷ lệ giá trị phần tài sản mà bà L được phân chia là 65% nên bà L phải chịu 65% x 4.500.000₫ = 2.925.000đ chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản; các đồng thừa kế của ông Phan Văn C1 phải chịu 35% x 4.500.000₫ = 1.575.000đ chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản nên phần chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản mà mỗi đồng thừa kế phải chịu là (1.575.000₫ : 7) = 225.000đ/người. Do đó, cần buộc ông Phan Văn K, chị Phan Như Q và Phan Thị T1 mỗi người phải trả lại cho chị C số tiền chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản là 225.000đ. Riêng đối với chị Phan Thanh T2 và anh Phan Tiến Đ là người chưa thành niên (dưới 18 tuổi) cấp sơ thẩm giao cho bà Thái Thị L quản lý kỷ phần thừa kế mà chị T2 và anh Đ được hưởng nên cần buộc bà L hoàn trả lại cho chị C phần chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản của chị T2 và anh Đ là 450.000đ. Tổng cộng phần chi phí, xem xét thẩm định và định giá tài sản mà bà L phải hoàn trả lại cho chị C là 3.600.000 đồng.
- [3]. Về nội dung kháng cáo bị đơn:
- [3.1]. Về nội dung kháng cáo sửa Bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh chị C là con đẻ của ông C1, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại đơn kháng cáo cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn kháng cáo cũng thừa nhận trong giấy khai sinh của chị Phan Thị C ghi họ tên cha là Phan Văn C1. Mặt khác, tại nội dung của Bản án số 36/2020/HNGĐ -ST ngày 12/11/2020 của Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An về việc bà Phạm Thị T3 yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn và yêu cầu ông C1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi chị Phan Thị C thì sau khi xét xử sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo gì đối với nội dung của bản án này. Mặt khác, đến thời điểm hiện nay chưa có một bản án, quyết định nào không công nhận chị C là con của ông C1 nên nội dung kháng cáo này của bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận. Việc bà L trình bày ông C1 đã lập di chúc chia tài sản, trong đó không có việc chia di sản cho chị C nhưng như bản án sơ thẩm đã phân tích di chúc của ông C1 không đảm bảo các điều kiện có hiệu lực nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị đơn.
- [3.2]. Về nội dung kháng cáo sửa Bản án sơ thẩm, bà L chấp nhận hỗ trợ cho chị C khoảng 50-60.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: chị C là người được hưởng thừa kế của ông Phan Văn C1, không có cơ sở để phân chia di sản thừa kế cho chị C theo di chúc mà cần phân chia theo pháp luật với kỳ phần phân chia di sản thừa kế mà chị C được hưởng theo phân tích ở trên là 303.225.000 đồng nên không chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị đơn. Bà L cho rằng bà L là người có công sức, tiền của đóng góp nhiều hơn nên Toà án đã phân chia cho bà L phần nhiều hơn là phù hợp, việc bà L trình bày công sức đóng góp của ông K, các anh chị Quỳnh, T1, T2, Đ nhưng quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan này không yêu cầu xem xét công sức nên cấp phúc thẩm không có cơ sở xem xét những trình bày này của bị đơn. Mặt khác, bà L không đồng ý với việc chia phần giá trị thừa kế của chị C ngang với các con chung của bà và ông C1, cho rằng chị C không có công sức, tiền của để mua sắm tài sản, thiếu quan tâm, tình cảm ruột rà với ông C1 nhưng theo quy định tại Điều 610, 660 thì mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền hưởng di sản và di sản thừa kế là được chia đều, chị C cũng không thuộc các trường hợp không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 621 Bộ luật Dân sự nên không chấp nhận các nội dung kháng cáo này của bị đơn. Đối với nội dung đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xem xét miễn giảm án phí cho bà L và các con chung của bà L, ông C1 thì do chị Phan Thanh T2 và anh Phan Tiến Đ là trẻ em, cấp sơ thẩm đã miễn nộp tiền án phí là phù hợp với quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; riêng bà Thái Thị L, chị Phan Như Q và Phan Thị T1 là người được phân chia di sản thừa kế, có tài sản nên không có căn cứ để miễn, giảm án phí như nội dung kháng cáo của bà L.
- [3.3]. Về án phí phúc thẩm: kháng cáo của chị Phan Thị C được chấp nhận một phần nên chị C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; kháng cáo của bà L không được chấp nhận nên bà L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 Nghị quy ết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Thái Thị L.
- Chấp nhận một phần kháng cáo chị Phan Thị C, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Căn cứ vào khoản 2, khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 164, Điều 165, Điều 169, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 623, 630, 634, 636, 649, 650, 651, 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 8, khoản 1 Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình; mục 5 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- + Quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 34, tờ bản đồ số 09 tại khối A (nay là khối C), thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An; diện tích 361m² (200m² đất ở, 161m² đất TCLN) được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số BX 628252 ngày 16/6/2015 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L.
- + Quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 33, tờ bản đồ số 09 tại khối A (nay là khối C), thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An, diện tích 117m² đất ở được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số CD 762784 ngày 14/4/2016 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L.
- + Quyền sử dụng đất tại thửa đất lô 1103, tờ bản đồ số 00 QH 2012 tại khu Q thị trấn Y; diện tích 141m² đất ở được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số CD 705703 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phan Thị C, chị Phan Như Q, Phan Thị T1 mỗi người phải chịu 15.161.250 đồng án phí dân sự sơ thẩm, bà Thái Thị L phải chịu 112.245.150 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị Phan Thị C đã nộp 23.161.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011318 ngày 17/5/2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành nên cần khấu trừ, trả lại cho chị C số tiền tạm ứng án phí dân sự còn lại là: 7.999.750 đồng.
- Kể từ ngày ông Phan Văn K, chị Phan Thị C, chị Phan Như Q, chị Phan Thị T1, chị Phan Thanh T2 và anh Phan Tiến Đ có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, nếu bà Thái Thị L không chịu thi hành thì hàng tháng bà L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Phan Thị C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nên được nhận lại 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0007754 ngày 30/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành. Bà Thái Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà L đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0001234 ngày 12/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị C.
- Về phân chia tài sản chung: Xác định tài sản chung của ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L là:
Tổng giá trị ba thửa đất số 33, 34 và 1103 theo định giá là 6.064.500.000 đồng.
- Chia cho bà Thái Thị L được hưởng 65% giá trị ba thửa đất nêu trên là 3.941.925.000 đồng. Ông Phan Văn C1 được hưởng 35% giá trị ba thửa đất nêu trên là 2.122.575.000 đồng.
- Về phân chia di sản thừa kế: Xác định hàng thừa kế của ông Phan Văn C1 gồm 7 người: ông Phan Văn K, bà Phan Thị L3, chị Phan Thị C, Phan Như Q, Phan Thị T1, Phan Thanh T2, Phan Tiến Đ. Những người thuộc hàng thừa kế được hưởng 1 kỷ phần thừa kế di sản của ông Phan Văn C1, được chia bằng tiền cụ thể: 2.122.575.000 đồng: 7 = 303.225.000 đồng.
- Giao cho bà Thái Thị L được quyền quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất tại: thửa đất số 34, tờ bản đồ số 09 tại khối A (nay là khối C), thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An, diện tích 361m² (200m² đất ở, 161m² đất TCLN) được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số BX 628252 ngày 16/6/2015 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L; thửa đất số 33, tờ bản đồ số 09 tại khối A (nay là khối C), thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An, diện tích 117m² đất ở được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số CD 762784 ngày 14/4/2016 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L; thửa đất lô 1103, tờ bản đồ số 00 QH 2012 tại khu Q thị trấn Y, diện tích 141m² đất ở được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số CD 705703 mang tên ông Phan Văn C1 và bà Thái Thị L.
Nhưng bà Thái Thị L có nghĩa vụ trích chia di sản thừa kế của ông Phan Văn C1 cho ông Phan Văn K, chị Phan Thị C, chị Phan Như Q, chị Phan Thị T1, chị Phan Thanh T2 và anh Phan Tiến Đ mỗi người 01 kỳ phần thừa kế là 303.225.000 đồng. (Ba trăm lẻ ba triệu, hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng).
Ông Phan Văn K, chị Phan Thị C, chị Phan Như Q, chị Phan Thị T1, chị Phan Thanh T2 và anh Phan Tiến Đ mỗi người được quyền sở hữu số tiền phân chia di sản thừa kế của ông Phan Văn C1 303.225.000 đồng (Ba trăm lẻ ba triệu, hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng).
Giao cho bà Thái Thị L quản lý số tiền phân chia di sản thừa kế của chị Phan Thanh T2, anh Phan Tiến Đ cho đến khi các anh chị đủ 18 tuổi trưởng thành.
Bà Thái Thị L có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Về chi phí tố tụng: Chị Phan Thị C phải chịu 225.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản nhưng được khấu trừ vào số tiền 4.500.000 đồng mà chị C đã nộp tại Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Buộc ông Phan Văn K, chị Phan Như Q và Phan Thị T1 mỗi người phải hoàn trả lại cho chị Phan Thị C số tiền chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản là 225.000 đồng. Bà Thái Thị L phải hoàn trả lại cho chị Phan Thị C số tiền chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản là 3.600.000 đồng.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 54/2024/DS-PT ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về chia tài sản chung, chia di sản thừa kế.
- Số bản án: 54/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung, Chia di sản thừa kế.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giải quyết tranh chấp về thừa kế, chia tài sản chung giữa chị C và bà L
