|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2024/DS-ST Ngày: 03/5/2024 “V/v Tranh chấp về quyền sử dụng đất" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Phường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Vững và ông Đào Văn Hiến.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Jét - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hải - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 05/4/2024, ngày 23/4/2024 và ngày 03/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 115/2022/TLST-DS ngày 01/4/2022, về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-DS ngày 06/3/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Duy N, sinh năm 1995;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Địa chỉ: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Dương Nhật Đ, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Theo văn bản ủy quyền ngày 05/01/2021.
Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Phạm Thị G, sinh năm 1953;
Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1958;
Chị Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1985;
Anh Nguyễn Thanh P, sinh năm 1988;
Anh Nguyễn Vủ L, sinh năm 1994;
Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Anh N, anh Đ, ông H và ông P có mặt; Bà G vắng nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; Bà B, chị A, anh L và chị T vắng không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm anh Dương Nhật Đ trình bày:
Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp trên là của ông nội anh N là ông Nguyễn Văn B1 (Chết năm 2015). Sau đó, đến năm 2011 thì ông B1 làm thủ tục tặng cho các phần đất của ông B1 lại cho con ruột là bà Nguyễn Thị S (Bà S là cô ruột của anh N) trong đó có phần ăn của anh N, do anh N còn nhỏ nên nhờ bà S đứng tên giùm. Đến năm 2018, bà S làm thủ tục chuyển nhượng (Thực chất là sang tên phần ăn trên lại cho anh N), đến ngày 21/8/2018 thì anh N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.885m², thuộc thửa số 1186, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi được cấp giấy thì anh N sử dụng liên tục từ đó cho đến nay. Trong quá trình sử dụng thì phía ông H có lấn chiếm của anh N phần đất chiều ngang 73m, chiều dài 20m, diện tích 1.460m². Đối với vụ án này trước đây anh N có khởi kiện do Thẩm phán D giải quyết và đã đo đạc xong. Nay anh N thống nhất sử dụng Sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2021 để giải quyết trong vụ án này. Đối với hiện trạng phần đất đang tranh chấp không có gì thay đổi so với khi Tòa án thẩm định. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì anh N đang giữ tại nhà không có thế chấp cho ai. Đối với bà G là người đang cất nhà ở trên phần đất này thì bà G đã có ý kiến trong trường hợp Tòa án phán quyết phần đất này thuộc về anh N thì bà G sẽ tự di dời nhà và các tài sản có trên đất để trả lại cho anh N và bà G không có yêu cầu hỗ trợ gì. Về việc này thì anh N thống nhất với ý kiến trên của bà G và anh N tự nguyện hỗ trợ cho bà G 10.000.000 đồng chi phí di dời nhà. Đồng thời, anh N không có yêu cầu gì đối với bà G. Đối với phần đất trên là tài sản của cá nhân anh N, không phải là tài sản chung với bất kỳ ai.
Nay, anh N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H, bà B1, chị A, anh P, anh L và chị T trả lại phần đất diện tích đo đạc thực tế là 1.139,9m², thuộc 01 phần thửa số 1186, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, do anh N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, anh N không còn trình bày và yêu cầu gì khác.
* Theo ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm ông Nguyễn Văn H trình bày:
Đối với phần trình bày của anh Đ thì ông không thống nhất. Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp trước đây do ông nội của ông là cụ Nguyễn Văn H1 (Chết trước năm 1975) khai phá mà có được. Sau đó, cụ H1 có chia đất cho các người con tên là ông Nguyễn Văn H2 (Là cha của ông H và đã chết năm 1980) và ông Nguyễn Văn B1 (Là ông nội của anh N). Sau đó, ông H2 cho phần đất này lại em ruột của ông là ông Nguyễn Văn M. Đến năm 1992 thì ông M chuyển nhượng phần đất trên lại cho ông với giá 2,6 lượng vàng 24kara, đến năm 1995 thì ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, đến năm 2021 thì ông đã đổi lại giấy mới. Ông quản lý và sử dụng phần đất trên từ năm 1992 đến nay. Thời điểm cụ H1, ông H2 và ông M quản lý và sử dụng đất thì phần đất chưa được cấp giấy. Trước đây, ông nội của ông có cho ông B1 một cái nền nhà nên diện tích ông chỉ phần đất của anh N như sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2021 là đúng. Nay ông thống nhất sử dụng Sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2021 để giải quyết trong vụ án này. Đồng thời, ông yêu cầu Tòa án lấy các tài liệu, chứng cứ bên hồ sơ của Thẩm phán D qua để làm căn cứ giải quyết trong vụ án này và thu thập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B1. Đối với hiện trạng phần đất đang tranh chấp không có gì thay đổi so với khi Tòa án thẩm định. Hiện nay, trong hộ của ông gồm: Ông, bà B1, chị A, anh P, anh L, chị T, còn có các cháu nữa nhưng các cháu còn rất nhỏ, ngoài ra không còn ai khác. Đối với phần đất có nhà chính của ông thì hiện do ông đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn phần đất phía sau tiếp giáp với phần đất đang tranh chấp thuộc thửa số 1187 do con của ông là anh L đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với các cây trồng, kiến trúc và cá nuôi trên phần đất đang tranh chấp là tài sản chung vợ chồng ông, các con của ông không có công sức đóng góp gì vào các tài sản này.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của anh N thì ông không đồng ý trả theo toàn bộ yêu cầu của anh N, vì ông không có chiếm đất gì của anh N. Trong trường hợp Tòa án phán quyết phần đất trên là của ông thì ông sẽ cho bà G ở cho đến khi chết. Trong trường hợp Tòa án phán quyết phần đất trên là của anh N thì ông sẽ tự di dời hết các tài sản trên và không yêu cầu bồi thường hoặc hỗ trợ gì. Ngoài ra, ông không còn trình bày và yêu cầu gì khác.
* Theo ý kiến tại biên bản hòa giải bà Phạm Thị G trình bày:
Bà là chị dâu của ông H, hiện nay bà đang sống một mình hoàn cảnh khó khăn không có nhà để ở nên ông H đã cho bà cất nhà trên phần đất này để ở. Bà cất nhà vào ngày 19/4/2022 (Âm lịch) và bà sống một mình trên căn nhà này từ đó cho đến nay. Căn nhà này là do bà con gần đó thấy hoàn cảnh của bà nên thương tình có người cho tiền, có người cho cây, tol ... để bà cất được căn nhà như hiện nay, bà cất căn nhà này giá trị khoảng 30.000.000 đồng. Bà xác định là bà ở nhờ trên phần đất của ông H. Trong trường hợp Tòa án phán quyết phần đất trên thuộc về ông H thì ông H đã hứa cho bà ở đến khi chết, còn trong trường hợp Tòa án phán quyết phần đất trên thuộc về anh N thì bà sẽ tự di dời nhà và các tài sản có trên đất để trả lại cho anh N và bà không có yêu cầu hỗ trợ hoặc bồi thường gì. Đối với vụ án này bà không có yêu cầu gì. Ngoài ra, bà không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
* Theo ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm anh Nguyễn Thanh P trình bày:
Anh là con ruột của ông H, anh thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của ông H. Đối với phần đất và tài sản có trên đất đang tranh chấp là tài sản của ông H và bà B1, anh không có công sức đóng góp gì vào các tài sản này. Nay anh không có yêu cầu gì. Ngoài ra, anh không còn trình bày và yêu cầu gì khác.
* Đối với bà B1, chị A, anh L và chị T mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, các phiên tòa sơ thẩm và cũng không có văn bản ý kiến gì.
* Ý kiến và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:
- Về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, cũng như việc chấp hành các quy định về tố tụng dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án được thực hiện đúng và đầy đủ nên Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các Điều 100 và Điều 166 của Luật đất đai, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
+ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh N. Anh N có quyền sử dụng đất có diện tích 1.139,9m² (Vị trí F1, F9, M5, L2, L1, M2, M11 trở về F1).
+ Buộc hộ ông H gồm ông H, bà B1, chị A, anh P, anh L, chị T di dời kiến trúc là sàn nước có diện tích 2,6m² và chuồng heo có diện tích 81,3m²; di dời các cây trồng trên đất và vật nuôi là cá nuôi trong ao nuôi cá có diện tích 307,3m²; buộc bà Phạm Thị G di dời căn nhà gỗ có diện tích 44m² để trả lại phần đất có diện tích 1.139,9m².
+ Ghi nhận sự tự nguyện của anh N về việc anh N trả cho ông H 5.000.000 đồng tiền thuê kô be múc ao cá và hỗ trợ cho bà G 10.000.000 đồng chi phí di dời nhà.
* Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ do đương sự cung cấp gồm:
- Nguyên đơn nộp các tài liệu, chứng cứ gồm:
- + Giấy CMND và sổ hộ khẩu (Bản photo);
- + Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Bản photo);
- + Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (Bản photo);
- + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Bản photo);
- + Biên bản hòa giải ở cơ sở ngày 16/10/2019 (Bản chính);
- + Xác nhận giá đất (Bản chính).
- Bị đơn nộp các tài liệu, chứng cứ gồm:
- + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Bản photo).
- Các đương sự còn lại không có nộp các tài liệu, chứng cứ gì.
* Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ do Tòa án thu thập gồm:
- + Hồ sơ giải quyết của Thẩm phán D (Bản photo);
- + Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá;
- + Sơ đồ đo đạc phần đất đang tranh chấp và phụ lục kèm theo;
- + Biên bản lấy lời khai;
- + Các văn bản trả lời và tài liệu kèm theo của cơ quan có liên quan.
Các tài liệu trong hồ sơ đã được công khai theo biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 26/01/2024.
* Các tình tiết, sự kiện trong vụ án các bên đương sự thống nhất: Không.
* Các tình tiết mà các bên đương sự không thống nhất: Toàn bộ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật: Anh N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H, bà B1, chị A, anh P, anh L và chị T trả lại phần đất diện tích đo đạc thực tế là 1.139,9m², thuộc 01 phần thửa số 1186, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, do anh N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, các đương sự không ai có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền: Tranh chấp trên giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, phần đất đang tranh chấp tọa lạc tại ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về tố tụng:
- Theo quyết định hoãn phiên tòa thì Hội thẩm nhân dân chính thức là ông Đào Văn H3 và bà Hồ Thị T1. Tại phiên tòa sơ thẩm, do bà T1 bận đi công tác đột xuất nên không thể tham gia phiên tòa được thay thế bằng ông Lê Văn V là Hội thẩm nhân dân dự khuyết. Các đương sự có mặt thống nhất đồng ý việc thay đổi này và không có khiếu nại gì. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
- Đối với bà G vắng nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bà B1, chị A, anh L và chị T vắng không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên.
- Đối với hộ của ông H thì ông H và anh P xác định trong hộ gồm ông H, bà B1, chị A, anh P, anh L và chị T, ngoài ra không còn ai khác. Đồng thời, anh N khởi kiện ông H. Do đó, việc Tòa án xác định ông H là bị đơn và bà B1, chị A, anh P, anh L, chị T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, giữa những người trong hộ này không có phát sinh tranh chấp gì và cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về nguồn gốc phần đất thì các đương sự đều xác định là của cụ Nguyễn Văn T2 cho các con là ông Nguyễn Văn B1 (Là ông nội của anh N) và ông Nguyễn Văn H2 (Là cha của ông H). Đây là những tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự vì được các bên đương sự thống nhất thừa nhận.
- Xét thấy, đối với ông H2 sau khi được cha cho đất thì cho phần đất này là lại cho con tên Nguyễn Văn M. Sau đó, ông M chuyển nhượng phần đất này lại cho ông H. Vào năm 1995, ông B1 và ông H đều đi đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo đó, ông B1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 1186 (Là phần đất đang tranh chấp), còn ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 1198 và 2299 (Liền kề với thửa số 1186). Theo ông H trình bày phần đất đang tranh chấp là của ông H, còn ông B1 chỉ được cho 01 nền nhà diện tích khoảng 286,2m². Tuy nhiên, ông H không đăng ký kê khai phần đất này mà người kê khai là ông B1 và ông B1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, từ năm 1995 đến nay thì ông H cũng không có khiếu nại hoặc khởi kiện gì về việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B1, bà S và anh N. Ngoài ra, theo Công văn số 6871/CNTM-KTĐC ngày 01/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T về việc chồng ghép, tiếp biên sơ đồ đo đạc của Công ty TNHH D1 đã xác định phần đất đang tranh chấp trong phạm vi các mốc F1, F2, F7, F6, F5, M6, F9, M5, M4, M3, M2, M11 trở về mốc F1 do anh N xác định so với bản đồ 299 tương ứng với thửa số số 1186 do anh N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 01 phần diện tích 84,3m² thuộc thửa số 1198 do ông H đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, mặc dù ông H có xây dựng 01 phần sàn nước, chuồng heo, đào ao phía sau để thả cá nuôi, trồng cây nhưng các việc này đều diễn ra sau khi ông B1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, có đủ cơ sở xác định lời trình bày của anh N là có cơ sở, còn lời trình bày của ông H là không có cơ sở.
Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của anh N là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Đối với phần đất chênh lệch (Diện tích là 458,9m²) giữa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Diện tích là 1.885m²) so với đo đạc thực tế (Diện tích là 1.426,1m²). Phía anh N cho rằng là do quá trình sạt lở bờ kênh và mở rộng đường lộ nên anh N không có khiếu nại gì và thống nhất với diện tích đo đạc thực tế.
[7] Đối với các cây trồng, kiến trúc và tài sản có trên đất:
- Đối với các cây trồng, kiến trúc và tài sản của ông H theo như Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Sơ đồ đo đạc của Tòa án thì như phân tích ở phần trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh N. Do đó, đối với các cây trồng, kiến trúc và tài sản này thì ông H phải có nghĩa vụ di dời theo quy định pháp luật. Đồng thời, anh N không phải bồi thường hoặc hỗ trợ di dời gì do anh H tự nguyện di dời và không có yêu cầu gì.
- Đối với kiến trúc của bà G theo như Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Sơ đồ đo đạc của Tòa án thì như phân tích ở phần trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh N. Do đó, đối với kiến trúc này thì G phải có nghĩa vụ di dời theo quy định pháp luật. Đồng thời, ghi nhận sự tự nguyện của anh N về việc hỗ trợ cho bà G 10.000.000 đồng chi phí di dời nhà.
[8] Đối với công sức cải tạo đất mặc dù ông H không có yêu cầu gì nhưng anh N tự nguyện trả lại cho ông H 5.000.000 đồng tiền thuê kô be múc đất. Do đó, ghi nhận sự tự nguyện của anh N về việc trả lại cho ông H 5.000.000 đồng tiền thuê kô be múc đất.
[9] Đối với các đương sự còn lại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
[10] Tại các phiên tòa sơ thẩm, các đương sự có mặt xác định ngoài lời trình bày và các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì các đương sự có mặt không còn chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu của mình và cũng không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ nào khác. Ngoài ra, cũng không còn yêu cầu gì khác.
[11] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của anh N được chấp nhận nên về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá, ông H phải chịu theo quy định của pháp luật và tổng chi phí trên là 1.000.000 đồng. Đối với số tiền này do anh N đã tạm ứng và chi xong nên ông H phải nộp lại số tiền này để trả lại cho anh N.
[12] Về án phí:
- Anh N không phải chịu tiền án phí và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Hộ ông H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông H sinh năm 1959 và bà B1 sinh năm 1958, tính đến nay đã trên 60 tuổi và có yêu cầu xin miễn nộp tiền án phí. Đồng thời, các tài sản có trên đất là tài sản chung của ông H và bà B1. Do đó, xét hộ của ông H thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án quy định tại điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[13] Về ý kiến và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:
- Về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, cũng như việc chấp hành các quy định về tố tụng dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án được thực hiện đúng và đầy đủ, nên Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
- Về đề nghị nội dung vụ án giải quyết vụ án thì từ những phân tích trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 100, Điều 166 và Điều 203 của Luật đất đai; Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 246, Điều 264, Điều 267 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12, Điều 14, Điều 15, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy N. Buộc hộ ông Nguyễn Văn H và các thành viên trong hộ gồm bà Nguyễn Thị B, chị Nguyễn Thị Thúy A, anh Nguyễn Thanh P, anh Nguyễn Vủ L, chị Nguyễn Thị Thanh T (Gọi tắt là hộ ông H) phải trả lại cho anh N phần đất (Đất ở tại nông thôn) diện tích đo đạc thực tế là 1.139,9m², trong phạm vi các mốc F8, F9, M5, L2, L1, M2, M11, M10, M9, M8 trở về mốc F8, tại 01 phần thửa số 1186, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Duy N vào ngày 21/8/2018.
- Về cây trồng, kiến trúc và tài sản có trên đất:
- Về chi phí tố tụng: Hộ ông H phải liên đới chịu 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá. Đối với số tiền này do anh N đã tạm ứng và chi xong nên hộ ông H phải có nghĩa vụ liên đới nộp lại số tiền này để trả lại cho anh N.
- Về án phí:
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/8/2022 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2021 và phụ lục ngày 09/01/2024 của Công ty TNHH D1.
Anh N và hộ ông H được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Anh N đồng ý tự nguyện trả lại cho ông H 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) chi phí thuê kô be múc đất.
- Anh N đồng ý tự nguyện hỗ trợ cho bà G 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) chi phí di dời nhà.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), bên phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng còn phải chịu lãi bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.
- Hộ ông H phải di dời toàn bộ cây trồng và kiến trúc (Theo như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/8/2022 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2021 và phụ lục ngày 09/01/2024 của Công ty TNHH D1) và cá nuôi trong ao nằm trên phần đất diện tích đo đạc thực tế là 1.139,9m², trong phạm vi các mốc F8, F9, M5, L2, L1, M2, M11, M10, M9, M8 trở về mốc F8, tại 01 phần thửa số 1186, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Duy N vào ngày 21/8/2018.
- Bà G phải di dời toàn bộ kiến trúc (Theo như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/8/2022 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2021 và phụ lục ngày 09/01/2024 của Công ty TNHH D1) nằm trên phần đất diện tích đo đạc thực tế là 44m², trong phạm vi các mốc ML, MM, MG, MH, MI, MK trở về mốc ML, tại 01 phần thửa số 1186, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Duy N vào ngày 21/8/2018.
- Anh N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho anh N 4.380.000 đồng (Bốn triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai số 0007681, ngày 01/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
- Hộ ông H được miễn nộp tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Phường |
Bản án số 54/2024/DS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Số bản án: 54/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy N - Nguyễn Văn H
