TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03-5-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nhường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lãnh Văn Việt.
2. Ông Mạc Vương Long.
- Thư ký phiên toà: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 473/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QÐST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QÐST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Triệu Thị L, sinh năm 2000. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Phan Quốc H, sinh năm 1994. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Triệu Thị L thì nội dung vụ án như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phan Quốc H kết hôn với nhau vào năm 2018, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, chị và anh H có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới chị và anh H về chung sống cùng nhau ngay và ở cùng gia đình anh H. Chị và anh H ban đầu chung sống hòa thuận hạnh phúc, nhưng chung sống đến đầu năm 2022 thì hai bên đã phát sinh những mâu thuẫn như hay cãi nhau vặt, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Tình trạng này diễn ra một thời gian dài mà không cải thiện được thậm chí còn nghiêm trọng hơn. Chị và anh H sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh H không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh H được ly hôn nhau.
- Về con chung: Chị và và anh H có 02 con chung là cháu Phan Thị Ngọc T, sinh ngày 23/10/2018 và cháu Phan Ngọc H1, sinh ngày 27/01/2023. Nếu vợ chồng ly hôn thì chị nhận nuôi con nhỏ là cháu Phan Ngọc H1, sinh ngày 27/01/2023, để anh H nuôi dưỡng cháu Phan Thị Ngọc T, sinh ngày 23/10/2018, về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản xác minh ngày 06/02/2024 đối với ông Phan Văn T1 cung cấp: Anh Phan Quốc H là con trai của ông, hiện nay anh H đang đi làm ăn xa, thỉnh thoảng cứ một tháng lại về nhà một hai lần, về được một hai ngày lại đi làm luôn còn cụ thể đi đâu làm gì, ở đâu thì ông không biết. Ông cũng nhận được các văn bản của Tòa án giao đến cho con trai ông và ông cam kết sẽ đưa lại và báo cho anh H được biết. Ông cũng đã thông báo cho anh H được biết anh H có trình bày cũng nhất trí ly hôn với chị L và đồng ý nuôi dưỡng cháu T còn cháu H1 anh H nhất trí cho chị L chăm sóc và nuôi dưỡng, ngoài ra anh H không có ý kiến gì khác. Quá trình anh H chị L sinh sống với nhau thì có xảy ra mâu thuẫn cãi nhau nhiều lần, nguyên nhân mâu thuẫn như nào thì ông không nắm được.
Tại biên bản xác minh ngày 26/02/2024 đối với ông Hoàng Văn H2 - Trưởng thôn Cao Thượng, xã Đ cung cấp: Anh Phan Quốc H và chị Triệu Thị L có kết hôn với nhau vào năm 2018. Sau khi kết hôn anh chị có về chung sống với nhau ngay tại thôn. Quá trình chung sống anh H chị L có xảy ra mâu thuẫn, xô xát cãi nhau, cụ thể nguyên nhân mâu thuẫn như nào thì địa phương không nắm rõ.
Anh H hiện nay vắng mặt tại địa phương đang đi làm ăn xa, thỉnh thoảng anh H có về địa phương về được một hai ngày rồi lại đi ngay. Anh H đi đâu làm gì địa phương không nắm được vì khi đi anh H không báo cho chính quyền địa phương được biết. Quá trình chung sống anh H chị L có hai con chung là cháu Phan Thị Ngọc T và cháu Phan Ngọc H1. Từ khi chị L bỏ về nhà ngoại thì có đưa cháu H1 theo, còn cháu T vẫn sống cùng anh H cho đến nay.
Tại Biên bản xác minh ngày 09/3/2024 đối với ông Hà Quốc T2, Cán bộ Phòng Q, Công an tỉnh B về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh cung cấp: Qua tra cứu thôn tin dữ liệu anh Phan Quốc H, sinh năm 1994, địa chỉ: thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang hiện chưa có thông tin cấp hộ chiếu, không có thông tin xuất nhập cảnh.
Tại biên bản xác minh ngày 26/02/2024 đối với ông Lê Văn M, Cán bộ công an xã Đ cung cấp: Qua quá trình tra cứu sổ sách và dữ liệu anh Phan Quốc H, sinh năm 1994 hiện nay vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại C, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang chưa chuyển đi đâu. Hiện anh H vắng mặt tại địa phương, anh H đi đâu làm gì ở đâu thì địa phương không nắm được vì khi đi anh H không báo cho chính quyền địa phương được biết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phan Quốc H vắng mặt không có lý do. Anh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh H không cung cấp văn bản ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị L, không tham dự phiên họp, phiên hòa giải nên Tòa án không thu thập lời khai, ý kiến của anh H được.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Triệu Thị L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phan Quốc H vắng mặt lần thứ hai không lý do. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án và công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thị L, cho chị Triệu Thị L được ly hôn với anh Phan Quốc H.
- - Về con chung: Giao cho chị Triệu Thị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Phan Thị Ngọc T, sinh ngày 23/10/2018 và cháu Phan Ngọc H1, sinh ngày 27/01/2023. Việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về tài sản chung, công nợ chung: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- - Về án phí: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc chị Triệu Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Triệu Thị L có đơn xin ly hôn với anh Phan Quốc H. Bị đơn anh Phan Quốc H có nơi cư trú tại thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Triệu Thị L vắng mặt tại phiên toà và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phan Quốc H vắng mặt, Tòa án đã triệu tập lần thứ hai nhưng anh Phan Quốc H vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn đã ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn. Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay anh Phan Quốc H vẫn có hộ khẩu tại thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tại biên bản xác minh ngày 09/3/2024 đối với Phòng Q, Công an tỉnh B cung cấp thông tin hiện nay Phan Quốc H chưa được cấp hộ chiếu, chưa có thông tin xuất nhập cảnh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 3 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 23 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt anh Phan Quốc H, chị Triệu Thị L.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Triệu Thị L và anh Phan Quốc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 05 tháng 10 năm 2018. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Như vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
[4] Trong quá trình chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị L và anh H không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau làm cho tình cảm không còn, chị L anh H đã sống ly thân với nhau một thời gian. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L anh H là có thật. Sau khi thụ lý vụ án chị L cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau nữa. Quá trình giải quyết, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
[5] Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả chị Triệu Thị L và anh Phan Quốc H đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Triệu Thị L và anh Phan Quốc H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Triệu Thị L được ly hôn anh Phan Quốc H.
[6] Về con chung: Chị Triệu Thị L và anh Phan Quốc H có hai con chung là cháu Phan Thị Ngọc T, sinh ngày 23/10/2018 và cháu Phan Ngọc H1, sinh ngày 27/01/2023. Mặc dù chị L có nguyện vọng nuôi dưỡng một con chung và giao cho anh H nuôi dưỡng một con chung, tuy nhiên hiện nay, anh H thường xuyên đi làm ăn ở xa không có mặt ở địa phương do vậy giao con chung cho anh H nuôi dưỡng là không đảm bảo. Do vậy, cần giao hai con chung cho chị Triệu Thị L chăm sóc và nuôi dưỡng mới đảm bảo sự phát triển ổn định của các con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Triệu Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết ly hôn, con chung giữa chị Triệu Thị L và anh Phan Quốc H phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận
[10] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Triệu Thị L được ly hôn với anh Phan Quốc H.
- Về con chung: Giao con chung là Phan Thị Ngọc T, sinh ngày 23/10/2018 và Phan Ngọc H1, sinh ngày 27/01/2023 cho chị Triệu Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở thực hiện quyền này.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí: Chị Triệu Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005865 ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Triệu Thị L đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Án xử công khai sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Đức Nhường |
Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: v
