|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2024/HNGĐ-ST
Ngày 01-7-2024
"V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Gấm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mộng Lành và bà Trần Thu Trang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 151/2022/TLST-HNGD, ngày 01 tháng 8 năm 2022 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Văn Thị Bé N, sinh năm 1973;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1978;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị M, sinh năm 1945;
Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang;
Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
(Chị N có mặt; bà M và anh T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Văn Thị Bé N trình bày như sau:
Chị N và anh T sống chung với nhau từ năm 1996, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng đã hàn gắn nhiều lần nhưng không được, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh T đã ly thân từ năm 2021 đến nay.
Về quan hệ hôn nhân: Chị N yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh T.
Về con chung: Có 02 người con chung tên Nguyễn Thành P, sinh ngày 03/12/1997 (Hiện nay đã trưởng thành) và Nguyễn Thị T1, sinh ngày 22/12/2006, chị N yêu cầu được nuôi cháu T1 và không ai cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị N không trình bày và yêu cầu gì thêm.
Bị đơn anh Nguyễn Thành T có ý kiến như sau:
Anh T thống nhất với lời trình bày của chị N về thời gian chung sống, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, theo yêu cầu của chị N thì anh T đồng ý chấm dứt quan hệ hôn nhân.
Về con chung: Có 02 người con chung tên Nguyễn Thành P, sinh ngày 03/12/1997 (Hiện nay đã trưởng thành) và Nguyễn Thị T1, sinh ngày 22/12/2006, con có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Ngoài ra anh T không trình bày và yêu cầu gì thêm.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị M trình bày: Bà M cho rằng có cho vào năm 1997 thì bà có cho con bà là chị Văn Thị Bé N cất nhà ở đậu trên phần đất của bà có chiều ngang 9 m, chiều dài 10 m, tổng diện tích 90m² đất tọa lạc tại Ấp B, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Bà tiếp tục cho con và cháu bà ở trên phần đất này, bà không yêu cầu gì trong vụ án này.
Qua yêu cầu khởi kiện và ý kiến của các đương sự đã thống nhất với nhau các vấn đề sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh T thống nhất chấm dứt quan hệ vợ chồng.
Về con chung: Chị N và anh T thống nhất xác định có 02 người con chung tên Nguyễn Thành P, sinh ngày 03/12/1997 (Hiện nay đã trưởng thành) và Nguyễn Thị T1, sinh ngày 22/12/2006 (cháu T1 có nguyện vọng sống chung với mẹ là chị N), chị N và anh T thống nhất tự nguyện thỏa thuận giao cháu T1 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay: Chị N giữ nguyên ý kiến như đã trình bày và anh T và bà M vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký, các bên đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét thấy yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng của chị N và anh T là có căn cứ chấp nhận theo khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị T1, sinh ngày 22/12/2006 (Theo nguyện vọng cháu T1) cho cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị N xin ly hôn với anh T, các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- [2] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án là các bên đều thống nhất chấm dứt quan hệ hôn và giải quyết vấn đề con chung nhưng do các đương sự không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
- [3] Về quan hệ hôn nhân: Tại Tòa án chị N và anh T xác định chung sống với nhau từ năm 1996, không có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và anh chị không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, do đó hôn nhân của anh chị không có giá trị pháp lý và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, trong quá trình giải quyết vụ án thì chị N và anh T đều thống nhất chấm dứt quan hệ vợ chồng, chị N và anh T cùng có nơi cư trú tại xã N, huyện A và đã cung cấp giấy xác nhận chưa đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ vào Điều 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, qua thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Văn Thị Bé N và anh Nguyễn Thành T.
- [4] Về con chung: Chị N và anh T thống nhất xác định có 02 người con chung tên Nguyễn Thành P, sinh ngày 03/12/1997 (Hiện nay đã trưởng thành) và Nguyễn Thị T1, sinh ngày 22/12/2006 (cháu T1 có nguyện vọng sống chung với mẹ là chị N), chị N và anh T thống nhất tự nguyện thỏa thuận giao cháu T1 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành. Chị N không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
- [5] Về tài sản chung: Chị N và anh T thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
- [6] Về nợ và người khác nợ vợ chồng: Chị N và anh T thống nhất xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
- [7] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị N phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
- [8] Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên là có cơ sở chấp nhận, nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 14 và Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị chị Văn Thị Bé N và anh Nguyễn Thành T.
- 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị T1, sinh ngày 22/12/2006 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- 3. Về tài sản chung: Chị N và anh T thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
- 4. Về nợ và người khác nợ vợ chồng: Chị N và anh T thống nhất xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
- 5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Văn Thị Bé N có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0004903 ngày 29 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị N đã nộp xong án phí.
- 6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai chị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh T và bà M vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản, tuy nhiên anh T không được lạm dụng quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh, chị có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký tên và đóng dấu Thị Gấm |
Bản án số 54/2024/HNGĐ-ST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 54/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
