Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Số:54/2025/HSST

Ngày 27/6/2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

+ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hùng Cường

+ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hòa;

Bà Đào Thị Minh Nguyệt;

Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Kiểm sát viên sơ cấp.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án hình sự Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 40/2025/HSST ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo: Tạ Văn Đ, sinh năm 1991; Nơi ĐKHKTT và trú tại: Thôn V, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp : Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Tạ Văn L, sinh năm: 1964; Con bà: Lê Thị K, sinh năm: 1960; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Bản án số: 19/2010/HSST,ngày 31/5/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” Bị cáo chấp hành xong phần hình phạt, chưa chấp hành phần dân sự về bồi thường cho bị hại ( Nên chưa được xóa án tích); Tiền sự: Không; Nhân thân: - Ngày 02/01/2019, bị Phòng C1, Công an thành phố H xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi: “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 24/2020/HSST, ngày 29/5/2020, Tòa phúc thẩm Tóa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.Bị cáo hiện đang bị tạm giam về phạm tội khác chưa xét xử, tại Trại tạm giam số 2, Công an T. Số giam: 7 C2. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Đào Thị T, sinh năm: 1979; Địa chỉ: Số A đường T, phường T, thị xã S, t.p Hà Nội.( Có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Việt T1, sinh năm: 1999; Địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội. ( Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 10/01/2018, Tạ Văn Đ (sinh năm: 1991, trú tại: thôn V, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội) điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu (không rõ biển số) chở Lê Việt T1 (sinh năm: 1999, trú tại: thôn N, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội) đến Bệnh viện Q thuộc phường S, thị xã S thăm người ốm. Khoảng 4-5 giờ 00 phút cùng ngày, thì Đ điều khiển xe máy chở T1 đi về; Khi đi đến nhà bà Đào Thị T (sinh năm: 1979, trú tại: Số A đường T, phường T, thị xã S) thì Đ phát hiện cổng sắt ra vào nhà bà T không khóa nên Đ nảy sinh ý định vào nhà bà T để trộm cắp tài sản. Do vậy, Đ dừng xe máy ở bên phải đường, cách cổng ra vào nhà bà T khoảng 20 mét và nói với T1: “Mày đứng ngoài để tao vào nhà kia xem có bày cái gì ở ngoài không, để lấy”. T1 đồng ý và ngồi lên phía trước giữ xe máy. Đ đi bộ vào nhà bà T thì phát hiện dưới hiên nhà bà T để 01(một) thùng bia nhãn hiệu 333. 02(hai) thùng mỳ tôm nhãn hiệu Hảo H và 03(ba) hộp bánh ngọt. 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc, biển kiểm soát 33P3-6463 cùng 01(một) chiếc xe đạp điện, màu đen (cả hai xe đều cắm chìa khóa ở ổ khóa)

Thấy không có người trông coi nên Đ đi đến lấy 01(một) thùng bia nhãn hiệu 333 với 03 (ba) hộp bánh ngọt và 02 (hai) thùng mỳ tôm nhãn hiệu Hảo H bê ra chỗ T1 đứng đợi để lên yên xe máy D và nói với T1: “Giữ lấy đồ nhé, trong đó còn nữa”. Sau đó, Đ đi vào nhà bà T lấy trộm chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển kiểm soát 33P3-6463 rồi dắt ra cách cổng nhà bà T khoảng 30 mét thì nổ máy và bảo T1: “Đi, đi”. Sau đó, Đ điều khiển xe máy vừa lấy trộm được đi trước, còn T1 điều khiển xe máy Drem chở các đồ mà Đ vừa trộm được đi sau về khu vực đường bờ đê thuộc xã T, huyện P cất giấu chiếc xe máy Sirius lên và 01 thùng bia 333 cùng 03 hộp bánh ngọt ở dệ đường bên trái (trên đường đi, T1 làm rơi 02 thùng mỳ tôm, không thu hồi được). Sau dấu xong đồ thì Đ nói với T1 là: “Trong nhà còn con xe đạp điện, mày đèo tao quay lại lấy nốt”. T1 đồng ý. Đ liền điều khiển chiếc xe máy Dream chở T1 quay lại cách cổng nhà bà T khoảng 20 mét thì dừng xe và bảo T1 đứng bên ngoài giữ xe và canh gác. Đ xuống xe đi bộ vào nhà bà T lấy trộm 01 (một) chiếc xe đạp điện, màu đen dắt ra ngoài cổng, rồi mở khóa điện và điều khiển đi trước, còn T1 điều khiển xe máy đi sau. Cả hai đi về khu vực giấu các tài sản trộm cắp được trước đó thì Đ giấu chiếc xe đạp điện vào dệ cỏ phía bên trái đường rồi dựng chiếc xe máy Sirius lên để 01(một) thùng bia 333 và 03(ba) hộp bánh ngọt đặt lên xe rồi cùng T1 điều khiển xe máy chở về phòng trọ của Đ ở thôn T, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội cất dấu. Sau đó Đ đi ra mang chiếc xe đạp điện về phòng trọ cất dấu rồi cùng T1 ăn uống hết 01(một) thùng bia 333 và 03 hộp bánh ngọt.

Để tránh không ai phát hiện thì Đ đã tháo chiếc biển số 33P3-6463 đang lắp trên chiếc xe máy Sirius ra cất vào cốp rồi mang xe đến khu vực ngã tư G thuộc thị trấn P thuê người dán lại toàn bộ đề can thành màu đen. Sau đó, Đ đi đến khu

vực đường liên xã thuộc thôn N, xã V, huyện P mua của một người không quen biết chiếc biển số: 29T2-7364 rồi lắp vào xe rồi sử dụng làm phương tiện đi lại. Còn chiếc biển số 33P3-6463 của chiếc xe máy Sirius thì Đ vứt bỏ (Đ không xác định được vị trí vứt ở đâu nên không thu hồi được). Đến khoảng tháng 5/2018, Đ cùng một số đối tượng đi xe đến khu vực xã V, huyện B, thành phố Hà Nội để bắt trộm chó thì bị người dân phát hiện nên Đ bỏ lại chiếc xe máy Sirius trên đường và bỏ chạy thì người dân đã mang xe đến nộp cho cơ quan công an.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản bà Đào Thị T đã làm đơn trình báo đến Cơ quan công an. Quá trình điều tra, thì Lê Việt T1 đã đến Công an thị xã S đầu thú và khai nhận rõ về hành vi phạm tội của mình và Đ. Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Sirius màu đen, biển kiểm soát: 29T2-7364, số máy: 082433, số khung: 082433; đã qua sử dụng. 01 (một) chiếc xe đạp điện màu đen có số khung: HTC01116734, số máy: 48V240W13121983.

Tại bản kết luận số: 76/KLHĐ ngày 04/6/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S đã kết luận: “01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Sirius màu đen gắn biển kiểm soát: 29T2 - 7364, số máy: 082433, số khung: 082433, đã qua sử dụng; trị giá là: 6.500.000 đồng”;

Tại bản kết luận số: 83/KLHĐ ngày 03/8/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S đã kết luận: “01 (một) chiếc xe đạp điện màu đen có số khung: HTC01116734, số máy: 48V240W13121983, đã qua sử dụng giá trị còn lại 40% trị giá là 2.500.000 đồng”

Tại bản kết luận số: 03/KLHĐ ngày 18/01/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S đã kết luận:

  • - 01(một) thùng bia 333 loại 24 lon, thể tích mỗi lon 330 ml. Trị giá: 200.000 đồng;
  • - 02(hai) thùng mỳ tôm Hảo Hảo loại mỳ tôm chua cay, loại thùng 30 gói. Trị giá: 100.000 đồng/thùng x 02 thùng= 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng);
  • - 03 (ba) hộp bánh bông lan nhãn hiệu HURA hương cốm, trọng lượng mỗi hộp 360 gam. Trị giá: 50.000 đồng/hộp x 03 hộp = 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng);”

Như vậy, số tài sản mà Đ và T1 đã chiếm đoạt của bà T có tổng trị giá là: 9.550.000 đồng (Chín triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng)

Cơ quan CSĐT, Công an thị xã S đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Lê Văn T2 cùng Tạ Văn Đ để điều tra về tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Sau khi phạm tội Tạ Văn Đ đã bỏ trốn khỏi địa phương nên ngày 16/11/2018, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với Đ. Do hết thời hạn điều tra nhưng chưa bắt được Đ nên ngày 18/11/2018, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự và tạm đình chỉ điều tra bị can; Quyết định tách vụ án hình sự và tách chiếc biển kiểm soát: 29T2-7364 cùng các tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội của Đ ra khỏi vụ án để xử lý sau. Ngày 22/10/2024, Đ bị bắt theo lệnh truy nã.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Đào Thị T: 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius cùng 01(một) chiếc xe đạp điện có đặc điểm như nêu trên. Bà T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị can phải bồi thường gì về dân sự nữa.

Tại bản án số: 05/2019/HS-ST ngày 27/02/2019, của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử phạt Lê Việt T1 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Qua trình điều tra xác định: Ngày 28/8/2018, bị cáo Tạ Văn Đ còn bị Cơ quan CSĐT, Công an thành phố H (Phòng PC02) ra Quyết định khởi tố bị can để điều tra về tội: “Hiếp dâm và Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Do Đ bỏ trốn nên ngày 22/11/2018, Cơ quan CSĐT, Công an thành phố H đã ra Quyết định truy nã đối với Đ. Ngày 22/10/2024, Đ bị Phòng C1, Công an thành phố H bắt theo Quyết định truy nã và tạm giam để điều tra trong vụ án: “Hiếp dâm và Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” xảy ra ngày 04/01/2018 tại: xã T, B và xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội. Hiện vụ án đang được Cơ quan CSĐT, Công an thành phố H (Phòng PC02) thụ lý, giải quyết.

Do vậy, ngày 23/01/2025, Cơ quan CSĐT, Công an thị xã S đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự và Quyết định phục hồi điều tra bị can đối với Tạ Văn Đ để điều tra về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với chiếc biển số: 29T2-7364, xác định hiện trường, truy tìm vật chứng.

Ngày 27/02/2025, Phòng C1, Công an thành phố H đã có văn bản từ chối tiến hành giám định đối với chiếc biển số nêu trên, vì: Phòng C1 không lưu mẫu biển kiểm soát thật, nên không có cơ sở để kết luận biển kiểm soát: 29T2-7364 là thật hay giả.”

Qua tra cứu xác định: Chiếc biển số 29T2-7364 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng mà được cấp cho chủ xe Nguyễn Ngọc H1 (sinh năm: 1985, trú tại: Số A ngách D ngõ B đường L, phường B, quận T, Hà Nội). Anh H1 khai: Khoảng năm 2004, anh H1 mua 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu ATTILA rồi làm thủ tục đăng ký và được cấp biển số 29T2-7364 để làm phương tiện đi lại. Sau đó anh H1 đã bán hay cho ai chiếc xe máy này thì không nhớ nhưng anh H1 xác định không bị mất chiếc xe máy ATTILA, lắp biển số 29T2-7364. Anh H1 cũng không yêu cầu nhận lại chiếc biển số 29T2-7364 và không có đề nghị gì.

Tạ Văn Đ khai về nguồn gốc chiếc xe máy kiểu D đã sử dụng để đi trộm cắp tài sản là xe của một người nam giới đem đến cầm cố cho Đ để vay tiền và người này đã đến trả tiền cho Đ để chuộc lại chiếc xe máy. Đ không nhớ đặc điểm cụ thể của xe và không biết người cầm cố chiếc xe này là ai, ở đâu nên không có căn cứ để xác minh làm rõ được.

Quá trình điều tra xác định: Tại bản án số: 19 ngày 31/5/20210, Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xử phạt Tạ Văn Đ 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Và buộc Đ phải bồi thường cho các bị hại cùng người liên quan trong vụ án là anh Trần Văn N 23.000.000 đồng cùng ông Nguyễn Hữu C 5.700.000 đồng và anh Hoàng Văn L1 3.500.000 đồng. Ngày 26/8/2012, Đ chấp hành xong hình phạt trở về địa phương nhưng chưa bồi thường cho anh N và ông C nên chưa được xóa án tích.

Tại bản án số: 73 ngày 13/02/2015, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Tạ Văn Đ 24 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích” nhưng bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội kháng nghị.

Ngày 04/9/2015, Đạt chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù số: 89/GCN(PC81C) của Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H.

Tại bản án hình sự phúc thẩm số: 341/2016/HSPT ngày 06/6/2016, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội quyết định: Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số: 73/2015/HSST ngày 13/02/2015 của Tòa án nhân dân TP Hà Nội để điều tra lại.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 305/2019/HS-ST ngày 27/9/2019, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Tạ Văn Đ 24 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, xác nhận bị cáo Đ đã chấp hành xong hình phạt tù. Về trách nhiệm dân sự: Đ phải bồi thường cho bị hại 3.000.000 đồng và phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tiếp tục kháng nghị. Tại bản án hình sự phúc thẩm số: 249/2020/HS-PT ngày 29/5/2020, Tòa phúc thẩm Tóa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xử: Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm, xử phạt Tạ Văn Đ 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, xác nhận Đ đã chấp hành xong hình phạt tù. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. Hiện Đ chưa nộp tiền án phí và bồi thường dân sự.

Do bản án phúc thẩm có hiệu lực sau khi Đ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà T nên lần phạm tội này của Đ không thuộc trường hợp định khung tăng nặng là: Tái phạm nguy hiểm, mà chỉ thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm.

Ngoài ra Tạ Văn Đ còn có hành vi điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen, lắp biển số 29T2-7364 là biển số không đúng với chứng nhận đăng ký nhưng hiện đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Đ.

Về dân sự: Bị hại trong vụ án là bà Đào Thị T không yêu cầu Đ bồi thường về dân sự.

Vật chứng chuyển theo hồ sơ: 01 (một) chiếc biển kiểm soát xe mô tô: 29T2-7364, đã qua sử dụng;

Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 13/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội truy tố bị cáo Tạ Văn Đ về tội: "Trộm cắp tài sản" theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Tạ Văn Đ về tội danh, điều luật như cáo trạng đã nêu.

Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51;Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38- BLHS; Xử phạt bị cáo Tạ Văn Đ từ 15 đến 18 tháng tù; Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về dân sự : Bị hại trong vụ án là bà Đào Thị T không yêu cầu Đ bồi thường về dân sự. Không đề nghị HĐXX xem xét.

Về tang vật, vật chứng : Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc biển kiểm soát xe mô tô: 29T2-7364, đã qua sử dụng; Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 15/5/2025.

Bị cáo Tạ Văn Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[ 1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo;

Tại phiên tòa bị cáo Tạ Văn Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, bản kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 10/01/2018, Tạ Văn Đ và Lê Việt T1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Đào Thị T; Địa chỉ: Số A đường T, phường T, thị xã S . Tài sản trộm cắp gồm: 01(một) thùng bia nhãn hiệu 333. 02(hai) thùng mỳ tôm nhãn hiệu Hảo H và 03(ba) hộp bánh ngọt. 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc, biển kiểm soát 33P3-6463 cùng 01(một) chiếc xe đạp điện, màu đen (cả hai xe đều cắm chìa khóa ở ổ khóa) . Sau khi phát hiện bị mất tài sản bà Đào Thị T đã làm đơn trình báo đến Cơ quan công an. Quá trình điều tra, thì Lê Việt T1 đã đến Công an thị xã S đầu thú và khai nhận rõ về hành vi phạm tội của mình và Đ. Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Sirius màu đen, biển kiểm soát: 29T2-7364, số máy: 082433, số khung: 082433; đã qua sử dụng. 01 (một) chiếc xe đạp điện màu đen có số khung: HTC01116734, số máy: 48V240W13121983.

Tại bản kết luận số: 76/KLHĐ ngày 04/6/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S đã kết luận: “01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Sirius màu đen gắn biển kiểm soát: 29T2 - 7364, số máy: 082433, số khung: 082433, đã qua sử dụng; trị giá là: 6.500.000 đồng”;

Tại bản kết luận số: 83/KLHĐ ngày 03/8/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S đã kết luận: “01 (một) chiếc xe đạp điện màu đen có số khung: HTC01116734, số máy: 48V240W13121983, đã qua sử dụng giá trị còn lại 40% trị giá là 2.500.000 đồng”

Tại bản kết luận số: 03/KLHĐ ngày 18/01/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã S đã kết luận:

  • - 01(một) thùng bia 333 loại 24 lon, thể tích mỗi lon 330 ml. Trị giá: 200.000 đồng;
  • - 02(hai) thùng mỳ tôm Hảo Hảo loại mỳ tôm chua cay, loại thùng 30 gói. Trị giá: 100.000 đồng/thùng x 02 thùng= 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng);
  • - 03 (ba) hộp bánh bông lan nhãn hiệu HURA hương cốm, trọng lượng mỗi hộp 360 gam. Trị giá: 50.000 đồng/hộp x 03 hộp = 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng);”

Như vậy, số tài sản mà Đ và T1 đã chiếm đoạt của bà T có tổng trị giá là: 9.550.000 đồng (Chín triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo Tạ Văn Đ đã cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản". Nên bị cáo Đ bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố về tội : “ Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở các bị cáo chiếm đoạt tài sản có tổng trị giá là: 9.550.000 đồng (Chín triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự, an ninh địa phương, gây tâm lý lo lắng, hoang mang trong nhân dân. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo Đ với mức án nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung .

Trong vụ án này có hai bị cáo cùng tham gia có tính đồng phạm, mang tính bột phát, phạm tội không có tổ chức, không có sự chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội. Do vậy cần phải đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp. Các bị cáo Đ và T1 đều đồng tình phạm tội một các tích cực. Do vậy tính chất vụ án bị cáo là ngang nhau.

Tuy nhiên, khi lượng hình, ngoài hành vi, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt phù hợp.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 – BLHS năm 2015;

Về các tình tiết tăng nặng: Tại bản án hình sự phúc thẩm số: 249/2020/HS-PT ngày 29/5/2020, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xử:Bị cáo chấp hành xong phần hình phạt, chưa chấp hành phần dân sự nên phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm; Nên bị cáo phải chịu theo Điểm h Khoản 1 Điều 52 – BLHS năm 2015. Bị cáo không có ý thức rèn luyện bản thân để trở thành một công dân có ích cho xã hội, do vậy cần thiết phải áp dụng Điều 38 BLHS cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức sâu sắc hành vi phạm tội của mình, đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm nói chung.

Ngoài hình phạt chính, khoản 5 Điều 173 - Bộ luật hình sự năm 2015, còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000,đ đến 50.000.000,đ. Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Không có khả năng thi hành hình phạt tiền nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáoTạ Văn Đ1 đã bỏ trốn khỏi địa phương, ngày 16/11/2018, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với Đ1. Ngày 18/11/2018, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự và tạm đình chỉ điều tra bị can; Quyết định tách vụ án hình sự và tách chiếc biển kiểm soát: 29T2-7364 cùng các tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội của Đ1 ra khỏi vụ án để xử lý sau, là có căn cứ.

Về tang vật, vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc biển kiểm soát xe mô tô: 29T2-7364, đã qua sử dụng; Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 15/5/2025.

Về án phí: Bị cáo Tạ Văn Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[3] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

[ 4] Những cứ cứ tài liệu do Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều là chứng cứ hợp pháp.

[ 5]. Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án phản ánh, cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX không thấy có dấu hiệu vi phạm nên không kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khác phục vi phạm .

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

[ 1] Về tội danh : Tuyên bố bị cáo Tạ Văn Đ phạm tội: “ Trộm cắp tài sản".

[2] Về điều luật áp dụng: Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38- BLHS năm 2015 - Sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Tạ Văn Đ 12 (Mười hai) tháng tù .Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[3] Về dân sự : Bị hại không yêu cầu, không xét.

[4] Về tang vật, vật chứng : Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc biển kiểm soát xe mô tô: 29T2-7364, đã qua sử dụng; Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản của Chi cục Thi hành án thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội lập ngày 15/5/2025.

[5] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136- BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Tạ Văn Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo:Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.Án hình sự sơ thẩm xét xử công khai. Bị cáo Tạ Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại ; Người có quyền và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án .

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.

Nơi nhận

  • - TAND Thµnh phè Hµ Néi.
  • - VKSND t.x Sơn Tây.
  • - Công an t.x Sơn Tây.
  • -THADS, t.x Sơn Tây.
  • -Nh÷ng ngêi tham gia tè tông.
  • - Lu HS, VP

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Lã Hùng Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HSST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 54/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đ trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger