Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HSST

Ngày: 16/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Hồ Thị Xuân Thiều

Phạm Xuân Đính

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Duy - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên tòa:

Ông Bồ Đức Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

- Nguyễn Thành T, sinh năm 2003, tại Bình Dương.

Hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; Nơi ở hiện nay: Ấp Đ, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1965 và bà Bùi Thị M, sinh năm 1966; Vợ: Thái Mỹ D, sinh năm 1997; Con: Có 01 con sinh năm 2022; Tiền án – Tiền sự: Không có; Về nhân thân: Không.

Ngày 10/01/2025 bị khởi tố về tội Buôn bán hàng cấm. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2025 đến ngày 27/02/2025. Bị cáo được thay thế biện pháp ngăn chặn, cho bảo lĩnh từ ngày 27/02/2025 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Cái Thị Kiều M1, sinh năm 2002;

Nơi cư trú: Ấp Đ, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương (có đơn xin vắng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 10/2024, Nguyễn Thành T biết một người đàn ông tên X (không rõ nhân thân, lai lịch), ở khu vực thị xã B chào bán pháo nổ. Do cần pháo để sử dụng trong dịp tết Nguyên đán 2025, nên T đồng ý mua của X 05 bệ pháo với tổng số tiền 2.750.000 đồng (550.000 đồng/bệ). Xiêm giao pháo tại nhà cho T, thanh toán tiền khi nhận hàng. Sau khi nhận pháo từ X, T đem cất giấu với mục đích để sử dụng.

Khoảng 10 giờ, ngày 03/01/2025 thì một người đàn ông tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) liên lạc hỏi T về việc mua pháo nổ. Do đang cần tiền nên T đồng ý bán cho T1 05 bệ pháo với tổng số tiền là 5.400.000 đồng (900.000 đồng/bệ). T1 cho T biết sẽ có người liên lạc với T để lấy pháo, thanh toán tiền khi nhận hàng. Đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, có một người đàn ông sử dụng số điện thoại 0586.575.xxx liên lạc với T và tự xưng là em của T1, hẹn giao pháo tại Công ty TNHH Q, địa chỉ: Khu phố C, phường M, thị xã C. Sau đó, T mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, biển số 61H1 - 54427 của em họ T là Bùi Ngọc C, sinh năm 2000, nơi thường trú: Ấp Đ, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương làm phương tiện vận chuyển pháo. T cất giấu 05 bệ pháo vào trong giỏ (loại giỏ đệm) và để lên gác baga để vận chuyển. Khi đến Công ty Q, T liên lạc với người nhận pháo thì được người này cho biết xe bị hư, đang ở gần ngã tư V thuộc khu phố F, phường M, thị xã C và hẹn T đến đây giao nhận pháo thì T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 61H1 – 54427 vận chuyển 05 bệ pháo nêu trên đi giao cho người này. Khi đi đến đoạn đường ĐT751 thuộc địa phận tổ H, khu phố F, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước thì bị lực lượng Công an phường M tuần tra an ninh trật tự phát hiện, bắt giữ. Qua kiểm tra giỏ xách, phát hiện bên trong chứa 05 (năm) bệ pháo, hình hộp chữ nhật, mỗi bệ kích thước 17cm X 17cm X 10cm; bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, có in chữ số “49 SHOTS CAKE”, bên trong chứa 49 ống hình trụ tròn đường kính 2,5cm, được liên kết thành giàn; bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh. Tất cả có nguồn gốc, xuất xứ từ nước ngoài, không có hoá đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ. (Bút lục 66-67; 70-71)

Kết luận giám định số 33/KL-KTHS ngày 08/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B xác định 05 (năm) bệ pháo hình hộp chữ nhật (kích thước 17cm x 17cm x 10cm), bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, có in chữ số “49 SHOTS CAKE”, bên trong chứa 49 ống hình trụ tròn đường kính 2,5cm, được liên kết thành giàn; bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh là pháo nổ. Tổng khối lượng là 7,5kg. (Bút lục 47).

Cáo trạng số: 46/CT-VKSCT ngày 04/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành: Truy tố Nguyễn Thành T về tội Buôn bán hàng cấm theo quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng; Căn cứ tính chất mức độ phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 35, Điều 50, điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt hình phạt tiền bị cáo Nguyễn Thành T từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng về tội Buôn bán hàng cấm.

- Về vật chứng và vấn đề liên quan:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Đối 05 (năm) bệ pháo hình hộp chữ nhật (kích thước 17cm x 17cm x 10cm), bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, có in chữ số “49 SHOTS CAKE”, bên trong chứa 49 ống hình trụ tròn đường kính 2,5cm, được liên kết thành giàn; bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh là pháo nổ. Tổng khối lượng là 7,5kg. sau khi giám định còn 6,05kg. Hội đồng tiêu hủy vật chứng đã tiêu hủy theo Quyết định xử lý vật chứng số 272/QĐ-ĐTTH ngày 23/01/2025 của Cơ quan CSĐT Công an thị xã C, không đề nghị HĐXX xem xét.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số imei: 865007041003517, màu trắng của Nguyễn Thành T. Bị cáo đã sử dụng điện thoại này làm phương tiện liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội.
  • - Trả cho bị cáo: 01 (một) Túi xách, làm bằng cỏ, kích thước 67 x 50 (cm) là đồ dùng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • - 01 (một) xe mô tô biển số 61H-544.27, nhãn hiệu HONDA, số loại VISON, màu sơn nâu bạc, là tài sản của bà Cái Thị Kiều M1, sinh năm 2002, nơi thường trú: Ấp Đ, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Xe được bà M1 giao cho Bùi Ngọc C, sinh năm 2000 (chồng của M1) làm phương tiện đi lại. Ngày 03/01/2025, T mượn xe mô tô 61H-544.27 làm phương tiện vận chuyển hàng cấm là pháo nổ thì anh C không biết. Phương tiện này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu. (Bút lục 65)

Đối với người đàn ông tên X bán pháo cho T, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, thu thập thông tin, tài liệu. Tuy nhiên không làm rõ được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với số thuê bao 0586.575.713 liên lạc với T để mua pháo: Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp để tra cứu thông tin nhưng chưa nhận được kết quả trả lời. Cơ quan điều tra tiếp tục gửi văn bản, khi có kết quả sẽ xử lý sau.

Đối với chị Thái Mỹ D: Việc T vận chuyển, buôn bán hàng cấm thì D không biết, không tham gia nên không đủ cơ sở xem xét vai trò đồng phạm về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện tội phạm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã thu thập được. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Ngày 03/01/2025, tại khu vực tổ H, khu phố F, phường M, thị xã C, Nguyễn Thành T buôn bán 7,5kg hàng cấm lưu hành (pháo) cho thanh niên tên T1 không rõ nhân thân, lai lịch, mục đích hưởng tiền chênh lệch, tiêu xài cá nhân. Số hàng cấm lưu hành (pháo hoa) được giám định thu giữ khi bị bắt quả tang là 7,5kg. Hành vi của Nguyễn Thành T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Buôn bán hàng cấm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Xét nhân thân chưa tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên xử phạt tiền bị cáo là đủ mang tính răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Đối với vật chứng của vụ án:

  • - Đối 05 (năm) bệ pháo hình hộp chữ nhật (kích thước 17cm x 17cm x 10cm), bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, có in chữ số “49 SHOTS CAKE”, bên trong chứa 49 ống hình trụ tròn đường kính 2,5cm, được liên kết thành giàn; bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh là pháo nổ. Tổng khối lượng là 7,5kg, sau khi giám định còn 6,05kg. Hội đồng tiêu hủy vật chứng theo Quyết định xử lý vật chứng số 272/QĐ-ĐTTH ngày 23/01/2025 của Cơ quan CSĐT Công an thị xã C, là đúng quy định. Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số imei: 865007041003517, màu trắng của Nguyễn Thành T. Bị cáo đã sử dụng điện thoại này làm phương tiện liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội.
  • - Trả cho bị cáo: 01 (một) Túi xách, làm bằng cỏ, kích thước 67 x 50 (cm), đây là đồ dùng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội.

[6] Các vấn đề khác của vụ án:

Đối với người đàn ông tên X bán pháo cho T, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, thu thập thông tin, tài liệu. Tuy nhiên không làm rõ được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với số thuê bao 0586.575.713 liên lạc với T để mua pháo: Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp để tra cứu thông tin nhưng chưa nhận được kết quả trả lời. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục kiểm tra, xác minh làm rõ, xử lý sau.

01 (một) xe mô tô biển số 61H-544.27, nhãn hiệu HONDA, số loại VISON, màu sơn nâu bạc, là tài sản của bà Cái Thị Kiều M1, sinh năm 2002, nơi thường trú: Ấp Đ, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Xe được bà M1 giao cho Bùi Ngọc C, sinh năm 2000 (chồng của M1) làm phương tiện đi lại. Ngày 03/01/2025, T mượn xe mô tô 61H-544.27 làm phương tiện vận chuyển hàng cấm là pháo nổ thì anh C không biết. Phương tiện này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định. Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Thái Mỹ D: Việc T vận chuyển, buôn bán hàng cấm thì D không biết, không tham gia nên không có cơ sở xử lý.

[7] Kiểm sát viên đề nghị hình phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp, đúng quy định nên chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, Điều 35, 50 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng).

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số imei: 865007041003517.
  • - Trả cho bị cáo: 01 (một) Túi xách, làm bằng cỏ, kích thước 67 x 50 (cm).

Án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Phòng PV27-Công an tỉnh BP
  • - VKSND TX. Chơn Thành;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS TX. Chơn Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HSST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 54/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Tâm - Buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger