TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2025/HS-ST Ngày 27-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Dung
Ông Thiệu Minh Quỳnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hà Vĩnh Châm - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2025; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 11/2025/TB-TA ngày 05 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L, sinh năm 1978, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Khánh U và bà Lương Thị T; Có chồng là anh Lương Văn P và có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
* Bị hại: The North Face Apparel Corp.
Địa chỉ: C S, B H, W, D, 19810, Hoa Kỳ.
- Đại diện Công ty: Ông Christoper M. Turk - chức vụ Phó chủ tịch.
- Đại diện theo ủy quyền: Công ty L1
Địa chỉ: P, I, số B đường X, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Mạnh H - Chức vụ Giám đốc.
(Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Ngọc D1 - Luật sư của công ty L1. (Vắng mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đào Văn Đ, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số D, phố L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
* Người làm chứng:
1. Anh Lương Văn P, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)
2. Anh Bùi Văn P1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
3. Anh Nguyễn Đình Đ1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2010, Nguyễn Thị L thành lập xưởng may tư nhân, năm 2013 được Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện K cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể số 08G8001195, mã số 8706118713-001 ngày 04/3/2025, ngành nghề kinh doanh may trang phục (trừ trang phục từ da lông thú), có địa chỉ tại thôn T, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình. Năm 2010, anh Lương Văn P (chồng L) được Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện K cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh Lương Văn P mã số 08G80001444, đăng ký lần đầu ngày 15/9/2010, ngành nghề kinh doanh máy may công nghiệp.
Năm 2021, vợ chồng Nguyễn Thị L xây dựng xưởng may L2, địa chỉ tại thôn T, xã L, huyện K, có 42 công nhân lao động làm sản xuất kinh doanh quần áo mưa, quần áo đồng phục học sinh. Toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh xưởng may do Nguyễn Thị L điều hành. Sau một thời gian sản xuất, do không có đơn đặt hàng, sợ công nhân nghỉ việc chuyển đến làm cơ sở may khác, Nguyễn Thị L một mình mua nguyên phụ liệu như: vải, tem, mác, chỉ, khóa, chun...tại các cửa hàng ở chợ R, thành phố N, tỉnh Nam Định, mang về thuê anh Bùi Văn P1 thiết kế các mẫu áo. Trước khi thuê anh P1 thiết kế, Nguyễn Thị L đưa mẫu áo khoác nhưng chưa gắn nhãn hiệu của hãng áo nào đẻ anh P1 thiết kế theo nếu áo gồm loại 1 lớp thuê 500.000 đồng/lần thiết kế sơ đồ, loại 2 lớp thuê 700.000 đồng/lần thiết kế sơ đồ. Sau khi có bản thiết kế L chuyển cho chị Lê Thị T1, sinh năm 1978, trú tại thôn A, xã L, huyện K và anh Nguyễn Thiên C sinh năm 1981, trú tại thôn C, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình là công nhân cắt để thực hiện cắt chi tiết vải theo sơ đồ. Chị Lê Thị T1 phân loại, đánh dấu vị trí cần thêu nhãn mác hàng hoá. Nguyễn Thị L vào mạng Internet tìm kiếm mẫu nhãn mác The North F, sau đó thuê cơ sở thêu của anh Nguyễn Đình Đ1 thực hiện thêu nhãn hiệu và hình lên áo, gồm: có 3 chi tiết vải cần thêu là 2 chi tiết vải thêu chữ The North F và hình; 1 chi tiết vải thêu chữ Gore-tex với giá 4.000 đồng/áo. Sau khi thêu xong chuyển đến Bộ phận may do chị Nguyễn Thị Đ2 sinh năm 1983, địa chỉ thôn C, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình (Trưởng nhóm chuyền may 1) và chị Vũ Thị T2 sinh năm 1977, địa chỉ thôn H, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình (Trưởng nhóm chuyền may 2) phát vải đã cắt, đã thêu cho công nhân của 2 chuyền may để thực hiện may áo. May xong áo được cài đeo tem nhãn, thẻ bài vào khóa, dán size số áo và đóng gói sản phẩm. Giá bán, loại áo loại 1 lớp 100.000 đồng/chiếc; loại 2 lớp bán 120.000 đồng/chiếc.
Cuối năm 2021, L sản xuất áo khoác 1 lớp và 2 lớp gắn nhãn hiệu giả mạo The North F bán cho anh Đào Văn Đ 547 chiếc áo 2 lớp. Ngày 01/11/2021, ngày 12/10/2023 và ngày 02/02/2024, anh Đ chuyển tiền từ tài khoản số 0011004327945 của anh Đ mở tại Ngân hàng V, chi nhánh H1 đến tài khoản số 0211000513872 của L mở tại Ngân hàng N, chi nhánh T3 03 lần với tổng số 65.800.000 đồng (lần 1 chuyển 27.000.000 đồng, lần 2 chuyển 14.100.000 đồng và lần 3 chuyển 24.700.000 đồng), đến nay anh Đ đã bán hết số hàng này.
Ngày 02/10/2024, Đội Quản lý thị trường số E Cục Quản lý thị trường tỉnh T phối hợp với Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh T tiến hành kiểm tra tại xưởng may L2 tại H kinh doanh Lương Văn P và hộ kinh doanh Nguyễn Thị L thu giữ: 3.570 chiếc áo khoác, gồm: 300 chiếc áo khoác gió đen, 1.800 chiếc áo khoác dày nỉ, 1.320 chiếc áo khoác béo dày, 150 chiếc áo khoác phao nỉ đều mang dấu hiệu The North F và hình; 15.100 tem rời bằng bìa giấy và 1.000 tem rời bằng vải đều mang dấu hiệu The North F và hình; 02 cuộn vải nỉ còn mới chưa sử dụng có trọng lượng 66 kg và 01 cuộn vải gió còn mới chưa sử dụng có trọng lượng 45 kg; 10 máy may loại 1 kim các nhãn hiệu JUKI, WORLDEN, JACK, BAOYO, 01 máy xén vải nhãn hiệu MITSUYIN và 01 máy dập cúc nhãn hiệu WEIJIE đã qua sử dụng. Tổng trị giá tài sản các sản phẩm Nguyễn Thị L may, gắn nhãn hiệu giả mạo The North F đã bán và đã sản xuất trị giá 1.114.507.000 đồng.
- Kết luận giám định số: NH 849 - 24TC/KLGĐ ngày 25/12/2024 của Viện khoa học sở hữu trí tuệ - Bộ K kết luận:
“+ Dấu hiệu The North F và hình gắn (trình bày) trên sản phẩm áo khoác gió đen - là yếu tố xâm phạm quyền (quy định tại Điều 77 Nghị định 65/2023) đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm áo khoác thuộc Nhóm 25 theo GCNĐKNH số 212927 của The North Face Apparel C1;
+ Dấu hiệu The North F và hình gắn (trình bày) trên sản phẩm áo khoác dày nỉ- Là yếu tố xâm phạm quyền (quy định tại Điều 77 Nghị định 65/2023) đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm áo khoác thuộc Nhóm 25 theo GCNĐKNH số 212927 của The North Face Apparel C1;
+ Dấu hiệu The North F và hình gắn (trình bày) trên sản phẩm áo khoác béo dày - là yếu tố xâm phạm quyền (quy định tại Điều 77 Nghị định 65/2023) đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm áo khoác thuộc Nhóm 25 theo GCNĐKNH số 212927 của The North Face Apparel C1;
+ Dấu hiệu The North F và hình gắn (trình bày) trên sản phẩm áo khoác phao nỉ - là yếu tố xâm phạm quyền (quy định tại Điều 77 Nghị định 65/2023) đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm áo khoác thuộc Nhóm 25 theo GCNĐKNH số 212927 của The North Face Apparel C1”. (bút lục từ số 263 đến số B).”
- Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HDĐG, ngày 17/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện K, kết luận:
“Trị giá 3.570 chiếc áo khoác các loại còn mới chưa qua sử dụng tại thời điểm tháng 9/2024 là 995.520.000 đồng, gồm 300 chiếc áo khoác gió đen trị giá 37.500.000 đồng, 1.800 chiếc áo khoác dày nỉ trị giá 504.000.000 đồng, 1.320 chiếc áo khoác béo dày trị giá 377.520.000 đồng, 150 chiếc áo khoác phao nỉ trị giá 76.500.000 đồng”.
- Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HDĐG, ngày 23/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K, kết luận: “547 chiếc áo khoác các loại, còn mới chưa qua sử dụng là 118.987.000 đồng, gồm: 225 chiếc áo khoác gió đen trị giá 28.125.000 đồng; 205 chiếc áo khoác dày nỉ trị giá 57.400.000 đồng; 117 chiếc áo khoác béo dày trị giá 33.462.000 đồng”.
- Bản cáo trạng số 41/CT-VKSTB ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 226 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 226; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 50 Bộ luật Hình sự: đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng) đến 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu đồng). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Về vật chứng, tài sản tạm giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền thu lời bất chính 65.800.000 đồng, đối trừ số tiền 118.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, trả lại bị cáo 52.200.000 đồng. Tịch thu sung quỹ nhà nước 02 cuộn vải nỉ còn mới chưa sử dụng có trọng lượng 66 kg và 01 cuộn vải gió còn mới chưa sử dụng có trọng lượng 45 kg; 10 máy may loại 1 kim các nhãn hiệu JUKI, WORLDEN, JACK, BAOYO, 01 máy xén vải nhãn hiệu MITSUYIN và 01 máy dập cúc nhãn hiệu WEIJIE đã qua sử dụng; Tịch thu tiêu hủy: 3.570 chiếc áo khoác gồm: 300 chiếc áo khoác gió đen, 1.800 chiếc áo khoác dày nỉ, 1.320 chiếc áo khoác béo dày,150 chiếc áo khoác phao nỉ đều mang dấu hiệu The North F và hình; 15.100 tem rời bằng bìa giấy và 1.000 tem rời bằng vải đều mang dấu hiệu The North F và hình;
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, đây là lần đầu bị cáo vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Đơn đề nghị ngày 02/10/2024, của Công ty L1; Quyết định số 26050002/QĐ-CHS ngày 29/11/2024 của Cục quản lý thị trường tỉnh T chuyển toàn bộ hồ sơ, tang vật liên quan đến vụ việc có dấu hiệu xâm phạm sở hữu Công nghiệp đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T; Các Biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật, phương tiện bị tạm giữ số 26050004 ngày 02/10/2024 của Cục Quản lý thị trường tỉnh T; Biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập hồi 15 giờ ngày 16/12/2024; Kết luận giám định số: NH 849 - 24TC/KLGĐ ngày 25/12/2024 của Viện khoa học sở hữu trí tuệ - Bộ K; Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HDĐG, ngày 17/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện K; Công văn số BMVN/20112024/10 ngày 20/11/2024 của Công ty L1: Công ty M1 P không phải cơ sở được The North Face ủy quyền/cho phép sử dụng nhãn hiệu của công ty tại Việt Nam; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
[3] Trên cơ sở đó có đủ căn cứ kết luận: Mặc dù không được sự đồng ý của Công ty T4 và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về việc sản xuất, kinh doanh hàng hóa mang thương hiệu The North F đã được bảo hộ tại Việt Nam, bị cáo L đã mua nguyên phụ liệu, tìm kiếm trên internet mẫu nhãn mác The North F, thuê cơ sở thêu thực hiện thêu nhãn hiệu và hình lên áo, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa mang nhãn hiệu giả mạo The North F để thu lời bất chính. Từ tháng 11/2021 đến tháng 10/2024, bị cáo Nguyễn Thị L sử dụng nhà xưởng và công nhân của xưởng may Lan P2 thuộc hộ kinh doanh Nguyễn Thị L để sản xuất áo khoác gắn nhãn mác giả mạo The North F để bán ra thị trường. Tổng số sản phẩm gắn nhãn mác giả mạo The North F đã sản xuất, gồm: 4.117 chiếc áo khoác gió loại 1 lớp, 2 lớp, áo khoác nỉ dày, áo khoác béo dày, áo khoác phao nỉ giả mạo nhãn hiệu trị giá 1.114.507.000 đồng đã bán ra thị trường được 547 chiếc áo các loại cho anh Đào Văn Đ trị giá 118.987.000 đồng, thu lời bất chính 65.800.000 đồng.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu công nghiệp của người khác được pháp luật bảo hộ, xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế quốc dân và môi trường kinh doanh, gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của Công ty T4 và của công dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã thuê người tự thiết kế kiểu dáng, mẫu sản phẩm, tự dựng kích thước và lên số của các sản phẩm áo khoác các loại. Biết thương hiệu The North F được ưa chuộng trên thị trường nên bị cáo Nguyễn Thị L lên mạng Internet tìm kiếm mẫu nhãn hiệu The North Face và hình, sau đó thuê cơ sở thêu của anh Nguyễn Đình Đ1 thực hiện thêu nhãn hiệu và hình lên các sản phẩm áo khoác các loại. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 226 Bộ luật Hình sự.
“Điều 226. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
“1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm
...”
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 226 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
[4.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường trách nhiệm dân sự cho phía bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đủ khả năng tự cải tạo, có đủ điều kiện để thi hành hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự. Do vậy cần phạt tiền đối với bị cáo để nộp ngân sách nhà nước vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo L và Công ty L1 được Công ty T4 uỷ quyền đã thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại số tiền 200.000.000 đồng, đại diện bị hại công ty L1 đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm. Việc tự nguyện thoả thuận bồi thường thiệt hại nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
[7.1] 3.570 chiếc áo khoác gồm: 300 chiếc áo khoác gió đen, 1.800 chiếc áo khoác dày nỉ, 1.320 chiếc áo khoác béo dày,150 chiếc áo khoác phao nỉ đều mang dấu hiệu The North F và hình; 15.100 tem rời bằng bìa giấy và 1.000 tem rời bằng vải đều mang dấu hiệu The North F và hình là công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7.2] 02 cuộn vải nỉ còn mới chưa sử dụng có trọng lượng 66 kg và 01 cuộn vải gió còn mới chưa sử dụng có trọng lượng 45 kg; 10 máy may loại 1 kim các nhãn hiệu JUKI, WORLDEN, JACK, BAOYO, 01 máy xén vải nhãn hiệu MITSUYIN và 01 máy dập cúc nhãn hiệu WEIJIE đã qua sử dụng là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[7.3] Số tiền 65.800.000 đồng là tiền bán quần áo giả mạo The North Face nên buộc bị cáo phải nộp lại để xung quỹ Nhà nước. Đối từ số tiền 118.000.000 đồng bị cáo đã nộp theo biên lai số 0000998 ngày 06/3/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, trả lại bị cáo số tiền 52.200.000 đồng.
[8] Các vấn đề khác:
- Đối với các công nhân của xưởng may Lan P2, khi sản xuất không biết nhãn hiệu The North Face là của nước nào, có được bảo hộ tại Việt Nam hay không; không biết xưởng may có được sản xuất quần áo gắn nhãn hiệu The North Face hay không; không được L bàn bạc, chia lợi nhuận nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
- Đối với anh Đào Văn Đ mua 547 chiếc áo gắn nhãn hiệu giả The North F, anh Đ không biết quần áo của của Nguyễn Thị L bán là giả mạo nhãn hiệu The North Face, khi bán L không nói cho anh Đ biết là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu The North Face nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
- Đối với anh Bùi Văn P1 được bị cáo L thuê thiết kế mẫu áo. Khi thỏa thuận thiết kế bị cáo đưa cho anh P1 mẫu áo khoác mà bị cáo mua trên thị trường, không có gắn nhãn mác thương hiệu nào và không trao đổi với anh P1 về việc sản xuất áo khoác gắn nhãn hiệu The North Face và hình, nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
- Đối với anh Nguyễn Đình Đ1 được bị cáo L thuê thêu các mẫu The North F và hình lên các chi tiết vải. Bị cáo cung cấp mẫu chữ và hình cần thêu, không trao đổi với anh Đ1 về việc sản xuất áo khoác gắn nhãn hiệu giả The North F và hình nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 226; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng) để nộp vào Ngân sách nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
4.1. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 65.800.000 đồng tiền bán quần áo gắn mác giả mạo The North F. Đối từ số tiền 118.000.000 đồng bị cáo đã nộp theo biên lai số 0000998 ngày 06/3/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, trả lại bị cáo số tiền 52.200.000 đồng.
4.2. Tịch thu tiêu hủy: 3.570 chiếc áo khoác gồm: 300 chiếc áo khoác gió đen, 1.800 chiếc áo khoác dày nỉ, 1.320 chiếc áo khoác béo dày,150 chiếc áo khoác phao nỉ đều mang dấu hiệu The North F và hình; 15.100 tem rời bằng bìa giấy và 1.000 tem rời bằng vải đều mang dấu hiệu The North F.
4.3. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 02 cuộn vải nỉ còn mới chưa sử dụng có trọng lượng 66 kg và 01 cuộn vải gió còn mới chưa sử dụng có trọng lượng 45 kg; 10 máy may loại 1 kim các nhãn hiệu JUKI, WORLDEN, JACK, BAOYO, 01 máy xén vải nhãn hiệu MITSUYIN và 01 máy dập cúc nhãn hiệu WEIJIE đã qua sử dụng.
Số vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án ngày 28/3/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.
5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Ngọc Thành |
Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 54/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
