TOÀ ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ-TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2025/HS- ST Ngày: 27-05-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận
Bà Lê Thị Nhớ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi- Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Đỗ Văn Quân- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2025/TLST- HS ngày 24 tháng 04 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 05 năm 2025 đối với bị cáo:
Cao Văn Tiến T (Tên gọi khác: không)
- Sinh ngày 29 tháng 08 năm 1990 tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT: tổ A, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; chỗ ở hiện nay: K T, tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn T1 (s) và bà Đào Thị P (s); tiền án, tiền sự; không.
- Nhân thân:
- + Ngày 07/6/2021 bị Công an quận L xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định số: 15/QĐ-XPHC.
- + Ngày 24/9/2021, bị Toà án nhân dân quận Liên Chiểu xử phạt 06 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản tại Bản án số 73/2021/HS-ST. Chấp hành xong ngày 19.5.2022.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/02/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, Trại tạm giam Công an thành phố Đ. (có mặt)
- Bị hại:
- Công ty TNHH B; Địa chỉ: số E ấp T, xã B, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ Chi nhánh tại Đà Nẵng: số E T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1997; Địa chỉ: số D Đ, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
- Ông Vương Chí T2- chủ Doanh nghiệp tư nhân C; Địa chỉ: số T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Vương Chí H, sinh năm 1998; Địa chỉ: tổ C, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đào Phát H1, sinh năm: 1982; Địa chỉ: tổ A phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
- Ông Bùi Xuân T3, sinh năm 1987; Địa chỉ: tổ A phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền để tiêu xài nên trong khoảng thời gian từ ngày 11/8/2024 đến ngày 07/9/2024, Cao Văn Tiến T đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn quận T, TP Đà Nẵng. Cụ thể :
Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 11/08/2024, Cao Văn Tiến T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS: 43D1-221.47 đi đến đường T, quận T, TP ., khi đến Công ty TNHH B - Chi nhánh tại Đà Nẵng; Địa chỉ: số E T, phường A, quận T, TP.Đà Nẵng thì phát hiện không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T để xe máy ngoài rồi leo tường vào trong công ty. Sau khi vào bên trong T tìm kiếm tài sản thì phát hiện 02 máy tính nhãn hiệu Dell 7270 và 01 Ipad nhãn hiệu Apple để trên bàn nên T lấy rồi đem ra ngoài. Sau khi lấy xong T đem đến bán tại cửa hàng mua bán, sửa chữa L T, TP . với số tiền 750.000 đồng.
Vào khoảng 21 giờ ngày 28/8/2024, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream BKS: 43D1-221.47 đến trước xưởng cơ khí tại địa chỉ B T, phường A, quận T, TP . (doanh nghiệp tư nhân C) không thấy ai trông giữ nên T đã sử dụng kèm bấm đã chuẩn bị trước bấm lưới B40 rồi lẻn vào bên trong, T lấy được khoảng 40m dây điện máy hàn bỏ vào trong bao tải rồi đi ra ngoài. Sau khi lấy xong, T đem bán cho một tiệm phế liệu ở đường Đ, TP . với số tiền 1.300.000đồng. Đến khoảng 23 giờ 45 phút ngày 07/9/2024, T tiếp tục đến xưởng cơ khí tại địa chỉ B T, quận T lấy trộm 09m dây điện máy hàn rồi đem đến tiệm phế liệu ở đường Đ, TP . bán được với số tiền 600.000₫.
*Tang vật tạm giữ: 02 đĩa DVD ghi lại sự việc được lưu cùng hồ sơ vụ án.
*Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 20/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T xác định giá trị 02 Laptop nhãn hiệu Dell 7270 Core I5-6400U Ram 8G; SSD 256 GB có trị giá là 6.600.000₫ đồng. Đối với máy tính bảng Apple chưa thu hồi được, không có thông tin về loại sản phẩm nên không có cơ sở định giá.
*Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 20/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T xác định giá trị 49m dây điện máy hàn có trị giá là 4.949.000₫ đồng.
* Về dân sự: Chị Nguyễn Thị N1 - Đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH B - Chi nhánh tại Đà Nẵng yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000đ, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân C là Vương Chí H yêu cầu bồi thường số tiền 4.950.000đ hiện bị can chưa bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 24 tháng 04 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố: Cao Văn Tiến T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn Tiến T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Xử phạt Cao Văn Tiến T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: tiếp tục lưu cùng hồ sơ vụ án 02 đĩa DVD ghi lại sự việc.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho ông Vương Chí T2- chủ Doanh nghiệp tư nhân C số tiền 4.950.000 đồng và bồi thường cho Công ty TNHH B số tiền 6.600.000 đồng theo yêu cầu.
Tại phiên tòa, bị cáo Cao Văn Tiến T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cứu xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện theo uỷ quyền của ông Vương Chí T2- chủ Doanh nghiệp tư nhân C đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật và buộc bị cáo bồi thường số tiền 4.950.000 đồng giá trị giá trị 49m dây điện máy hàn do bị cáo chiếm đoạt chưa thu hồi được.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt, đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH B đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật và buộc bị cáo bồi thường cho Công ty số tiền 6.600.000 đồng giá trị 02 Laptop nhãn hiệu Dell 7270 Core I5-6400U Ram 8G; SSD 256 GB do bị cáo chiếm đoạt chưa thu hồi được. Đối với máy tính bảng Apple Công ty không có yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an quận T, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Cao Văn Tiến T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cở sở kết luận:
Từ ngày 11/8/2024 đến ngày 07/9/2024, Cao Văn Tiến T đã nhiều lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trên địa bàn quận T, thành phố Đà Nẵng bán kiếm tiền tiều xài cá nhân. Cụ thể: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 11/08/2024 tại Công ty TNHH B - Chi nhánh tại Đà Nẵng số E T, phường A, quận T TP ., T có hành vi chiếm đoạt của Công ty TNHH B 02 máy tính nhãn hiệu Dell 7270 trị giá 6.600.000đồng và 01 Ipad nhãn hiệu Apple. Vào khoảng 21 giờ ngày 28/8/2024 và ngày 07/9/2024 tại số B T, phường A, quận T, TP ., Cao Văn Tiến T có hành vi chiếm đoạt tổng cộng 49 mét dây điện hàn của doanh nghiệp tư nhân C trị giá là 4.949.000₫ đồng. Tổng giá trị tài sản Cao Văn Tiến T trộm cắp là 11.549.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 24 tháng 04 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Cao Văn Tiến T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của doanh nghiệp và tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương nên đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm khắc.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để cân nhắc giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy mức án mà vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra. Do đó, cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo đồng thời răn đe phòng ngừa chung.
[6] Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 02 đĩa DVD ghi lại sự việc.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên toà, ông Vương Chí H là người đại diện theo ủy quyền của bị hại ông Vương Chí T2- chủ Doanh nghiệp tư nhân C yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị 49m dây điện máy hàn số tiền 4.950.000 đồng.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt, bà Nguyễn Thị N đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH B yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị 02 Laptop nhãn hiệu Dell 7270 Core I5-6400U Ram 8G; SSD 256 GB số tiền 6.600.000 đồng.
Xét yêu cầu bồi thường của bị hại là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật, bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền theo yêu cầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận buộc bị cáo Cao Văn Tiến T phải bồi thường cho ông Vương Chí T2- chủ Doanh nghiệp tư nhân C số tiền 4.950.000 đồng và bồi thường cho Công ty TNHH B số tiền 6.600.000 đồng.
[8] Về những vấn đề khác có liên quan đến vụ án:
Đối với xe mô tô BKS 43D1-221.47, T Khai nhận mua tại cửa hàng mua bán xe cũ trên đường Cách mạng tháng tám, TP . vào khoảng tháng 10/2023, sau đó bị hư hỏng nên vào tháng 10/2024 đã bán cho tiệm mua bán phế liệu trên đường T, TP . (không nhớ rõ địa điểm cụ thể) với giá 700.000 đồng. Hiện chiếc xe không thu hồi được nên Cơ quan điều tra không đề cập đến là phù hợp.
Đối với chiếc kìm bấm dài khoảng 20cm, T khai nhận sau khi sử dụng đã vứt bỏ tại bụi cây ven đường (không nhớ rõ địa chỉ cụ thể) hiện không thu hồi được nên Cơ quan điều tra không đề cập đến.
Đối với anh Đào Phát Hải chủ tiệm mua bán, sửa chữa laptop tại số C T, TP khai nhận không nhớ có mua tài sản của Cao Văn Tiến T hay không nên không có cơ sở để xử lý đối với H1.
Đối với anh Bùi Xuân T3 là chủ tiệm phế liệu tại số B L, TP . khai nhận có mua đồ phế liệu của T nhưng do thời gian đã lâu nên không biết rõ đã mua những tài sản gì, không biết rõ nguồn gốc tài sản từ đâu mà có nên Cơ quan điều tra không để cập đến.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 577.500 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn Tiến T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt: bị cáo Cao Văn Tiến T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/02/2025.
- * Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 02 đĩa DVD ghi lại sự việc.
- * Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 586, Điều 589 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Cao Văn Tiến T phải có trách nhiệm bồi thường cho những bị hại tổng số tiền là: 11.550.000 đồng, cụ thể:
- - Công ty TNHH B số tiền 6.600.000 đồng (Sáu triệu, sáu trăm nghìn đồng).
- - Ông Vương Chí T2- chủ Doanh nghiệp tư nhân C số tiền 4.950.000 đồng (Bốn triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người có nghĩa vụ thi hành chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì phải chịu lãi suất trên số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 577.500 đồng (Năm trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh T4 |
Bản án số 54/2025/HS- ST ngày 27/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 54/2025/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Cao Văn Tiến T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
