|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 54/2025/HS-ST Ngày 24-3-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Thân Thị Tuyết Nhung - Cán bộ hưu.
- Bà Nguyễn Thị Thuỷ - Giáo viên hưu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Lê T, sinh năm 2003.
Quê quán: huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không
Con ông Nguyễn Lê T1, sinh năm 19 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 19(đã chết). Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Tiền án:
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 144 ngày 30/06/2022 của TAND thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 16 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; chấp hành xong án phạt tù ngày 15/6/2023; chưa được xoá án tích.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 52 ngày 11/6/2024 của TAND thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tài sản trộm cắp trị giá 181.000 đồng; chấp hành xong án phạt tù ngày 03/10/2024; chưa được xoá án tích.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 201 ngày 27/12/2019 của TAND thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 07 ngày 19/02/2025 của TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắpt tài sản”.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
Bị cáo đang bị tạm giam theo lệnh tạm giam của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên toà)
* Bị hại: Cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 15/4/2009.
Người đại diện hợp pháp của cháu H: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985.
Đều địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Cháu H và ông H1 đều vắng mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985 và bà Phạm Thị O, sinh năm 1989.
- - Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1988.
- - Cháu Trịnh Xuân C, sinh ngày 02/01/2009.
- - Anh Nguyễn Đình S1, sinh năm 2003.
- - Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1973.
- - Anh Đoàn Công T3, sinh năm 1996.
Đều địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Ông H1 và bà O đều vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Ông N vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của cháu C: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1980.
Đều địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Cháu C và bà S đều vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Anh S1 vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Ông L vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn L xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở hiện tại: Số A Đ, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
(Anh Tuấn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Lê T, sinh năm 2003, trú tại thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang kết bạn qua mạng xã hội Facebook với Nguyễn Văn H, sinh ngày 15/4/2009, trú tại thôn A, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/10/2024, T nhắn tin cho anh H qua Facebook rủ đi chơi game thì anh H đồng ý. Khi nhắn tin, T nói dối tên là H2 nhà ở thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau đó, anh H điều khiển chiếc xe máy điện nhãn hiệu DiBao màu đen biển số 98MĐ5-147.21 cùng bạn là Trịnh Xuân C, sinh năm 2009, trú tại thôn L, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang đến nhà T đón rồi cùng đi đến quán game “99 G" ở số nhà A đường N, tổ F, phường T, thành phố B chơi game. Trong lúc đang chơi game, T nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe máy điện của anh H mang đi bán lấy tiền chi tiêu.
Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, T hỏi mượn chiếc xe máy điện của anh H và nói dối là đi về nhà để lấy chìa khoá. Anh H tưởng thật nên đồng ý cho mượn xe. Do mới quen biết T nên anh H bảo anh C đi cùng để giám sát. Sau khi mượn được xe, T điều khiển xe chở anh C đi đến đầu đình làng P thì dừng lại. T bảo anh C xuống xe đứng đợi để T đi xe về nhà lấy chìa khoá rồi sẽ ra đón. Anh C tin tưởng nên xuống xe đứng đợi. Tuy nhiên, T không đi về nhà mà điều khiển xe đi đến quán sửa chữa xe máy của anh Nguyễn Đình S1, sinh năm 2003 ở xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang đặt vấn đề bán xe. Anh S1 hỏi nguồn gốc xe thì T nói dối là xe không có giấy tờ do T nhận cầm cố của người khác. Anh S1 gọi điện thoại cho ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1973, trú tại thôn B, xã N, huyện L nói về việc T đang muốn bán chiếc xe máy điện không có giấy tờ; nếu ông L muốn mua thì đến quán sửa xe của anh S1 để giao dịch. Sau đó, ông L đến quán sửa xe của anh S1 gặp T. Tại đây, ông L hỏi T về nguồn gốc xe thì T khẳng định là xe của T do cần tiền chơi game nên bán. Ông L tin tưởng nên đồng ý mua và trả cho 2.700.000 đồng tiền mặt rồi điều khiển xe đi về. Ngày hôm sau, ông L trả cho anh S1 200.000 đồng tiền công giới thiệu mua xe.
Đối với Nguyễn Lê T sau khi bán chiếc xe máy điện chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn H thì thuê taxi đến quán “GameVip” ở phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh chơi game. Khoảng 14 giờ ngày 16/10/2024, anh H tin qua M cho T để đòi xe thì T nhắn tin lại, tự giả mạo là người đang nhận cầm cố chiếc xe máy điện của anh H và cầm cố chiếc điện thoại của T và bảo anh H chuyển khoản 850.000 đồng thì sẽ trả lại xe và gửi vị trí để anh H đến lấy xe. T mượn số tài khoản ngân hàng V 0351001176793 của anh Đoàn Công T3 là nhân viên quán game và gửi cho anh H biết để chuyển tiền. Anh H tưởng thật nên đã nhờ chú ruột là Nguyễn Văn N, sinh năm 1988 ở cùng thôn chuyển khoản 850.000 đồng vào tài khoản của anh T3. Sau đó, anh H chụp hình ảnh đã chuyển tiền thành công gửi cho T. Sau khi nhận được tiền do anh N chuyển đến, anh T3 đã đưa cho T 850.000 đồng tiền mặt. T đã chi tiêu cá nhân hết.
Sau khi phát hiện bị T lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe máy điện và số tiền 850.000 đồng, anh H đến Công an phường T trình báo. Ngày 22/11/2024, Nguyễn Lê T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên khởi tố, bắt tạm giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Quá trình điều tra, T khai nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe máy điện của anh H ngày 15/10/2024 tại thành phố B.
Ngày 06/12/2024, ông Nguyễn Văn L tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố B chiếc xe máy điện nhãn hiệu DiBao màu đen, biển số 98MĐ5 – 147.21 do ông L mua của T.
Kết luận định giá tài sản số 281/KL-HĐ ngày 20/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố B kết luận: 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu DiBao màu đen biển số 98MĐ5-147.21 mua mới từ tháng 5/2024 trị giá tại thời điểm ngày 15/10/2024 là 11.500.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã cho anh Nguyễn Văn H nhận dạng ảnh Nguyễn Lê T. Kết quả, anh H nhận đúng ảnh và xác định có cho T mượn chiếc xe máy điện nhãn hiệu DiBao biển số 98MĐ5 – 147.21 ngày 15/10/2024.
Cơ quan điều tra đã cho anh Nguyễn Đình S1, ông Nguyễn Văn L nhận dạng ảnh Nguyễn Lê T. Kết quả anh S1 và ông L nhận đúng ảnh và xác định T đã đến bán chiếc xe máy điện nhãn hiệu DiBao biển số 98MĐ5 – 147.21 cho ông L ngày 15/10/2024.
Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Lê T nhận dạng ảnh anh Nguyễn Đình S1 và ông Nguyễn Văn L. Kết quả, T nhận đúng ảnh và xác định đến cửa hàng của anh S1 và đã bán chiếc xe máy điện nhãn hiệu DiBao biển số 98MĐ5 – 147.21 cho ông L ngày 15/10/2024.
Kết quả sao kê tai khoản số 0351001176793 mở tại Ngân hàng TMCP N1 chi nhánh B của anh Đoàn Công T3 xác định ngày 16/10/2024 có nhận 850.000 đồng do tài khoản mang tên Nguyễn Văn N chuyển khoản đến.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe máy điện DiBao biển số 98MĐ5 – 147.21 cho chị Phạm Thị O, sinh năm 1989 là mẹ anh Nguyễn Văn H. Bị hại không yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo. Ông L không yêu cầu bị cáo Nguyễn Lê T bồi thường.
Đối với anh Nguyễn Đình S1 và ông Nguyễn Văn L có hành vi giao dịch mua chiếc xe máy điện mà Nguyễn Lê T mang đến bán nhưng không biết là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 18 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Lê T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h, i khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Lê T từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 07 ngày 19/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 2 bản án từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đã nhận thức được hành vi của bản thân là sai, xin được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Buổi chiều ngày 15/10/2024, Nguyễn Lê T cùng với anh Nguyễn Văn H, sinh ngày 15/4/2009 cùng ngồi chơi game tại quán “99 Gaming” ở số nhà A đường N, tổ F, phường T, thành phố B. Trong lúc chơi game, T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy điện nhãn hiệu DiBao màu đen biển số 98MĐ5-147.21 trị giá 11.500.000 đồng của anh H nên dùng thủ đoạn gian dối hỏi mượn xe để đi về nhà lấy chìa khoá. Sau khi mượn được xe, T đã đem xe đến quán sửa xe máy của anh Nguyễn Đình S1 ở xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang sau đó bán cho ông Nguyễn Văn L trú tại thôn B, xã N, huyện L được 2.700.000 đồng. Ngày hôm sau, Nguyễn Lê T giả mạo là người đang nhận cầm cố chiếc xe máy điện của anh Nguyễn Văn H và nhắn tin bảo anh H chuyển khoản 850.000 đồng thì sẽ trả lại xe. Anh H tưởng thật nên đã chuyển khoản 850.000 đồng và bị T chiếm đoạt. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của cháu Nguyễn Văn H là 12.350.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật trị an xã hội và hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 04 lần bị xét xử về hình sự nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn mới đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
[5] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị xét xử hình sự năm 2022 và năm 2024, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này là tái phạm. Bị hại cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 15/4/2009 chưa đủ 16 tuổi, Do vậy, bị cáo phải các chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, nhận thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Đối với anh Nguyễn Đình S1 và ông Nguyễn Văn L có hành vi giao dịch mua chiếc xe máy điện mà Nguyễn Lê T mang đến bán nhưng không biết là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h, i khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Lê T 01 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 07/2025/HSST ngày 19/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 2 bản án là 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2024.
- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 54/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Lê T Lừa đảo chiêm đoạt tài sản
