Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ MỸ

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HS-ST

Ngày 03-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thu Hiền

Các hội thẩm nhân dân:

  • Bà Phan Thị Sơn
  • Ông Nguyễn Thế Phương

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Lê Nguyễn Trường Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Đoàn Minh T; sinh ngày 17/9/1995 tại tỉnh Bến Tre; hộ khẩu thường trú: Số B B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre; Chỗ ở: thôn T, xã C, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Thành T1, sinh năm 1971 và bà Trần Thị Thu T2, sinh năm 1971; bị cáo có vợ là Huỳnh Thị Thu P, sinh năm 1992 và 01 con sinh năm 2021; tiền sự: Không; tiền án: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 13/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên toà).

Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Minh T: Ông Hoàng Sỹ T3 – Luật sư thuộc Công ty L - Đoàn luật sư tỉnh B.

Bị hại: Cháu Trần Mai Yến N, sinh năm 2012

Người giám hộ: Trần Quốc T4, sinh năm 1982

Địa chỉ: Tổ B, thôn T, xã C, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Huỳnh Thị Thu P, sinh năm 1992

Địa chỉ: Thôn T, xã C, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 11/10/2024, Đoàn Minh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu sơn Cam-trắng, BKS: 72A-008.45 từ nhà trọ ra ngoài để đổi thuốc lá. Khi T điều khiển xe đi trên đường liên thôn đoạn thuộc tổ B, thôn T, xã C, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì nhìn thấy cháu Lê Thị Hằng N1, sinh năm 2012 điều khiển xe đạp điện màu đen-xanh chở cháu Trần Mai Yến N, sinh năm 2012 ngồi phía sau. Lúc này, cháu N đang cầm một chiếc điện thoại Vivo, màu xanh, bên ngoài có ốp lưng màu trắng trên tay trái vừa đi vừa sử dụng nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của cháu N. T đi theo phía sau xe của cháu N1 và Như được một lúc thì điều khiển xe mô tô chạy lên áp sát xe đạp điện do cháu N1 điều khiển rồi dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại của cháu N đang cầm trên tay. Sau khi giật được chiếc điện thoại của cháu N, T liền tăng ga bỏ chạy rồi quay trở về phòng trọ của T. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T đem chiếc điện thoại trên ra tiệm điện thoại di động gần nhà để mở khóa mật khẩu hết 200.000 đồng rồi mang về sử dụng.

Ngày 13/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P làm việc với Đoàn Minh T và T đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 80/KL ngày 01/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự UBND thành phố P, kết luận: 01 điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Vivo Y02S, màu xanh, dung lượng 64GB, mua cũ vào tháng 8/2023. Tại thời điểm ngày 11/10/2024 tài sản có giá trị là 1.200.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu sơn Cam-trắng, BKS: 72A-008.45 là tài sản hợp pháp của bà Huỳnh Thị Thu P, việc T sử dụng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi cướp giật tài sản bà P không biết; đối với 01 điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Vivo YO2S do Đoàn Minh T giao nộp là tài sản của cháu Trần Mai Yến N. Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại chiếc xe mô tô BKS: 72A-008.45 cho bà P, trả lại chiếc điện thoại di động hiệu Vivo Y02S cho cháu Như theo Quyết định xử lý vật chứng số 2180/QĐ ngày 05/12/2024.

- Về trách nhiệm dân sự: Cháu Trần Mai Yến N cũng như người giám hộ của cháu N không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không xem xét giải quyết.

Tại bản Cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 20 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ đã truy tố Đoàn Minh T về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d, g Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ thực hiện quyền công tố trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của bị cáo gây ra; phân tích nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d, g Khoản 2 Điều 171, điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đoàn Minh T mức án từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

Quan điểm bào chữa của Luật sư Hoàng Sỹ T3 đối với bị cáo Đoàn Minh T:

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ truy tố Đoàn Minh T về tội “Cướp giật tài sản” theo Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết sau: Về tình tiết định khung hình phạt tại điểm g Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” trường hợp này khi bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội bị cáo không biết cháu N dưới 16 tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử xác định tình tiết định khung phù hợp. Sau khi Cơ quan Công an mời bị cáo lên làm việc thì bị cáo đã giao nộp chiếc điện thoại trước đó chiếm đoạt của cháu N, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tài sản bị chiếm đoạt đã được bị cáo trả lại cho bị hại. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo Đoàn Minh T mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ đối đáp với quan điểm bào chữa của Luật sư:

Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đoàn Minh T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, g Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự là phù hợp, tại điểm g Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” không quy định bị cáo buộc phải biết bị hại đủ hay chưa đủ 16 tuổi, mà trường hợp bị cáo phạm tội đối với người dưới 16 tuổi thì đủ điều kiện để truy tố bị cáo theo điểm g Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Luật sư cho rằng cần áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” đối với bị cáo là hoàn toàn không có căn cứ, trường hợp bị cáo giao trả lại chiếc điện thoại là điều đương nhiên bị cáo phải thực hiện khi tội phạm bị phát hiện, do đó không được xem là tình tiết giảm nhẹ tại điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng thì bị cáo không đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử dưới khung hình phạt đối với bị cáo. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên mức hình phạt đã đề nghị đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, Đoàn Minh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ đã truy tố và thống nhất với quan điểm bào chữa của người bào chữa, không bổ sung gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng:

Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh và điều luật truy tố:

Lời khai nhận tội tại phiên tòa của Đoàn Minh T phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ ngày 11/10/2024, tại đoạn đường liên thôn thuộc tổ B, thôn T, xã C, thị xã P (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đoàn Minh T đã có hành vi điều khiển xe mô tô BKS: 72A-008.45 áp sát xe đạp điện do cháu Lê Thị Hằng N1 điều khiển chở theo cháu Trần Mai Yến N, sinh năm 2012 ngồi phía sau, bị cáo dùng tay phải cướp giật chiếc điện thoại di động hiệu Vivo Y02S trị giá 1.200.000₫ (một triệu hai trăm nghìn đồng) của cháu N rồi nhanh chóng tẩu thoát.

Thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cháu N mới 12 tuổi 02 tháng 29 ngày.

Do đó hành vi phạm tội của Đoàn Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, g Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân:

[3.1]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[3.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh khó khăn được xác nhận của chính quyền địa phương. Do đó, cần áp dụng điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà, luật sư bào chữa cho bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo đã giao nộp lại chiếc điện thoại đã chiếm đoạt của cháu N. Xét thấy, thời điểm bị cáo giao nộp lại chiếc điện thoại thì hành vi phạm tội của bị cáo đã bị Cơ quan công an phát hiện, tài sản bị chiếm đoạt thì phải được giao nộp lại cho cơ quan Công an để trao trả lại cho bị hại. Nên việc tình tiết trên không được xem là “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” theo điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên không có căn cứ để áp dụng theo quan điểm của luật sư bào chữa.

[3.3]. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

[4]. Về mức hình phạt:

Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây nguy hiểm cho bị hại và người đi đường, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo là công dân đã trưởng thành, nhận thức hành vi sử dụng xe môtô bất ngờ áp sát người đi đường để thực hiện hành vi cướp giật, chiếm đoạt bằng được tài sản của họ khi thấy có sơ hở, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản không những gây hậu quả làm thiệt hại về tài sản mà còn có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng cho người khác nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, do đó hành vi của bị cáo đã thể hiện sự manh động, liều lĩnh, coi thường pháp luật.

Luật sư bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để lượng hình đối với bị cáo thì thấy: Như đã nhận định tại mục [3.2], bị cáo T không đủ điều kiện áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, ngoài tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào quy định tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự theo đề nghị của luật sư bào chữa.

Do đó, đối với Đoàn Minh T cần có mức hình phạt phù hợp, tương xứng tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Cháu Trần Mai Yến N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu sơn Cam-trắng, BKS: 72A-008.45 cho bà Huỳnh Thị Thu P; trả lại 01 điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Vivo YO2S cho cháu Trần Mai Yến N theo Quyết định xử lý vật chứng số 2180/QĐ ngày 05/12/2024 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7]. Về án phí: Bị cáo Đoàn Minh T phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”;

  1. Áp dụng điểm d, g Khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Đoàn Minh T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 10 năm 2024.

  3. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đoàn Minh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
  4. Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Phú Mỹ;
  • - Chi cục THADS thành phố Phú Mỹ;
  • - Phòng PV06, CA tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Phân trại tạm giam khu vực TP. Phú Mỹ;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự sơ thẩm (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 51/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Minh T phạm tội Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger