|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2025/HS-ST Ngày: 27-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Nguyên.
- Ông Nguyễn Minh Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tùng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2025/HSST ngày 11/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HS ngày 14/3/2025, đối với bị cáo:
PHẠM VĂN Đ - sinh năm: 1993; nơi sinh: tại tỉnh Lâm Đồng.
Nơi cư trú: Thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T – sinh năm 1966 và bà Đặng Thị H - sinh năm 1966; Vợ Nguyễn Thị Thùy V – sinh năm 1997, có 02 người con lớn nhất 08 tuổi, nhỏ nhất 03 tuổi; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/01/2025 đến ngày 17/01/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn T – sinh năm 1966. (có mặt).
Địa chỉ: Thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn Đ là đối tượng nghiện ma túy.
Buổi trưa ngày 08/01/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đ điều khiển xe mô tô biển số 86F5 – 7406 đến đầu đường Ấ, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai gặp một người thanh niên (không xác định được nhân thân, lai lịch) đặt vấn đề mua 300.000 đồng ma túy nhằm mục đích để sử dụng thì được thanh niên này đồng ý và đưa cho Đ 01 gói thuốc lá hiệu YETT màu xanh, bên trong có 01 gói ni lông màu trắng dạng túi zip có kích thước 05cm x 07cm, được hàn kín ba đầu, một đầu khóa zip bên trong có chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, Đ cầm gói thuốc lá ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô về nhà, trên đường đi đến đoạn đường bê tông thuộc ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì Đ thấy lực lượng Công an xã P đang đi tuần tra, lo sợ bị phát hiện nên Đ ném gói thuốc lá bên trong chứa ma túy vào bên đường nhằm mục đích tẩu tán thì bị lực lượng Công an xã P phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật. Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tang vật thu giữ:
- - 01 gói ni lông màu trắng dạng túi zip có kích thước 05cm x 07cm, được hàn kín ba đầu, một đầu khóa zip bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng được đựng trong gói thuốc lá hiệu YETT màu xanh;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17; 01 xe mô tô biển số 86F5 - 7406.
Tại Kết luận giám định số 101/KL-KTHS ngày 17/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,4515 gam.
Tại Cáo trạng số 66/CT-VKSTP-ĐN ngày 05/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố và không bổ sung gì thêm.
Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2025.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị, Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì giấy niêm phong số 101/KL-KTHS có dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17 là tài sản hợp pháp của bị cáo Phạm Văn Đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai đã trả lại cho bị cáo Phạm Văn Đ là có căn cứ.
Đối với 01 xe mô tô biển số 86F5 - 7406 là tài sản hợp pháp của ông Phạm Văn T (cha ruột bị cáo Đ) không liên quan đến hành vi phạm tội nên Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai đã trả lại cho ông T là có căn cứ.
Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận mua ma túy của một đối tượng không xác định được nhân thân, lai lịch tại khu vực ấp C, xã P, huyện T. Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch, sẽ tiếp tục điều tra khi làm rõ được xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: “Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo còn chăm sóc mẹ già và con nhỏ”.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn Đ không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới và khai nhận ngày 08/01/2025, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,4515 gam ma túy loại Methamphetamine ở trên người nhằm mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử, nhận thấy hành vi của bị cáo Phạm Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo Phạm Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ, cất giấu trái phép chất ma túy có thành phần là Methamphetamine là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Để có mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
[4] Về tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[7] Với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo; trên cơ sở xem xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[8] Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì ký hiệu số 101/KL-KTHS có dấu hình tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17 là tài sản hợp pháp của bị cáo Phạm Văn Đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai đã trả lại cho bị cáo Phạm Văn Đ là có căn cứ.
Đối với 01 xe mô tô biển số 86F5 - 7406 là tài sản hợp pháp của ông Phạm Văn T (cha ruột bị cáo Đ) không liên quan đến hành vi phạm tội nên Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai đã trả lại cho ông T là có căn cứ.
[9] Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận mua ma túy của một đối tượng không xác định được nhân thân, lai lịch tại khu vực ấp C, xã P, huyện T. Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch, sẽ tiếp tục điều tra khi làm rõ được xử lý sau là có căn cứ.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[12] Quan điểm về việc giải quyết toàn bộ vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- - Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự.
- - Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Đ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 08/01/2025).
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì ký hiệu số 101/KL-KTHS, có dấu hình tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/3/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú).
- Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 27/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bá Đức |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Hồng Nguyên Nguyễn Minh Toàn |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bá Đức |
Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 54/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Văn Đức phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
