Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HS-ST

Ngày: 25-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Đới Xuân Huy
Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Giàng A Lình
- Bà Vàng Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Hoàng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐXXST- HS ngày 13/02/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Thàng K - Sinh năm 1987.

Nơi cư trú: Bản P, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: La Hủ; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thàng Xé G (đã chết) và bà Lò Gió B - sinh năm 1960; Bị cáo có chồng là Pờ Gió Đ (đã chết); bị cáo có 03 con. Con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2011; Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2024 cho đến nay (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân O - Luật sư ký hợp đồng với T tân Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu (Có mặt)

- Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Vàng A X - sinh năm 1981

Nơi công tác: Ủy ban Mặt trận tổ quốc huyện M. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều 17/9/2024, sau khi đi làm cỏ tại nương lúa của gia đình ở dốc V thuộc bản P, xã M, huyện M, Thàng Khừ X đi bộ về nhà tại khu dân cư N, bản P, xã M. Trên đường về, khi đến quốc lộ D, X gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, địa chỉ). Qua trao đổi, X mua được của người đàn ông này 02 gói Heroine với giá 500.000 đồng, bỏ vào túi áo bên trái với mục đích sử dụng cho bản thân mà không kiểm tra bên trong. Sau khi bán Heroine cho X, người đàn ông đi về hướng trung tâm bản P, còn X tiếp tục đi bộ về nhà.

Khi về đến nhà, X mở 02 gói Heroine mua được ra kiểm tra, phát hiện bên trong có tổng cộng 13 gói Heroine nhỏ. Xo lấy một gói ra sử dụng hết bằng cách hít, sau đó lấy nilon màu xanh gói số còn lại thành hai gói. Xo chôn toàn bộ số Heroine này dưới đất trước cửa nhà để sử dụng khi cần, không cho ai biết.

Đến khoảng 22 giờ ngày 19/9/2024, X lấy toàn bộ số Heroine đã chôn cho vào túi áo bên trái và mang sang nhà mẹ đẻ là bà Lò Gió B trú cùng bản. Hồi 22 giờ 15 phút cùng ngày khi X vừa vào nhà Lò Gió B, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đến xác minh tin báo của quần chúng nhân dân về việc X đang tàng trữ trái phép chất ma tuý. Do lo sợ bị phát hiện, X dùng tay phải lấy 2 gói nilon màu xanh chứa 12 gói Heroine trong túi áo ném ra trước cửa nhà nhưng bị tổ công tác phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ số Heroine mà X vừa ném ra.

Tại bản kết luận giỏm định tư phỏp số 114/KLGĐ ngày 20/9/2024 của người giỏm định tư phỏp theo vụ việc Cụng an huyện M, đó kết luận: Tổng khối lượng chất bột khụ, màu trắng thu giữ của Thàng K Xo là 2,39 gam.

Tại bản kết luận giỏm định số 1097/KL-KTHS ngày 25/9/2025 của Phũng K1 Cụng an tỉnh L kết luận đối với vật chứng thu giữ của Thàng Khừ Xo: 12 Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu từ Mẫu 01 đến M) gửi giỏm định là ma tỳy, loại: Heroine

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKS-MT ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu đã truy tố Thàng Khừ Xo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phân tích các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14

2

ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên bố bị cáo Thàng Khừ X1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" xử phạt bị cáo Thàng Khừ X1 mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 14 mảnh nilon màu xanh; 01 phong bì công văn do Công an huyện M phát hành.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa nhất trí với nội dung, quyết định truy tố. Không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng, đồng ý với quan điểm của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:

Xét lời khai nhận của bị cáo Thàng Khừ X1 tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 22 giờ 15 phút ngày 19/9/2024, tại bản P, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu, Thàng Khù X đang tàng trữ trái phép 12 gói Heroine có tổng khối lượng 2,39 gam với mục đích để sử dụng

3

cho bản thân, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo Thàng Khừ X1 có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về các chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi tàng trữ trái phép 2,39 gam Heroine để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy "theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác liên quan là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ cũng như hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo Thàng Khừ X1 chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo là người nghiện chất ma túy.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.

Do bị cáo là người nghiện chất ma túy, hành vi của bị cáo là nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ... hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng của vụ án: 2,39 gam Heroine cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã gửi toàn bộ đi giám định không hoàn lại mẫu vật, việc gửi vật chứng đi giám định là phụ hợp với quy định của pháp luật. 14 mảnh nilon màu xanh là vật bị cáo dùng vào việc phạm tội; 01 phong bì công văn do Công

4

an huyện M phát hành dùng để niêm phong vật chứng đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6]. Về những vấn đề khác:

Đối với người đàn ông lạ mặt mà theo lời khai đó là người đã bán H cho bị cáo đem về sử dụng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được người đó là ai nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét xử lý.

[7]. Về án phí: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình là hộ nghèo của xã nên cần miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Tuyên bố bị cáo Thàng Khừ X1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Thàng Khừ X1 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 20/9/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu 14 mảnh nilon màu xanh; 01 phong bì công văn màu trắng do Công an huyện M phát hành đã bị cắt một đầu.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện M với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè được lập vào hồi 14 giờ 55 phút ngày 21 tháng 02 năm 2025)

  4. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Mường Tè;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Mường Tè;
  • - Công an huyện Mường Tè;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Lưu HS – HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đới Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 54/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger