Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HS-ST

Ngày: 21 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Học.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phi Hùng.

Bà Vương Thị Khánh Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Quốc L, sinh năm 1990, tại Đồng Nai; nơi thường trú: 218, khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nơi ở hiện tại: Tổ C, khu phố D, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; con ông Trần Quốc B, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Kiều L1, sinh năm 1963; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba; có vợ là chị Tống Thị Mỹ L2, sinh năm 1991, có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo ra đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 22/10/2024, sau đó chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 2142/LTG-ĐTTH ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B; hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1974, địa chỉ: G, tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quốc L là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, để có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân L đã 02 (hai) lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 10 giờ ngày 16/10/2024, L điều khiển xe mô tô Honda Air Blade, biển số 60B9-099.77 đi đến đoạn đường nội bộ thuộc tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì thấy có nhiều khung sắt (loại khung sắt đã được gia công để sử dụng để làm công trình, kích thước 200cm x 90cm, nặng 38kg) được xếp chồng lên nhau và được cột thành từng chồng cố định bằng dây kẽm để bên lề đường cạnh tường nhà xưởng của anh Nguyễn Văn H, thấy không có người trông coi nên L dừng xe lại rồi lấy trộm 01 (một) khung sắt rồi mang đến cửa hàng mua bán phế liệu thuộc tổ F, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bán cho chị Mai Thị T với giá 250.000₫ (hai trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó, L tiếp tục quay lại lấy trộm thêm 02 (hai) khung sắt mang đến bán cho chị T với giá 250.000₫ (hai trăm năm mươi nghìn đồng)/1 khung sắt. Số tiền có được L sử dụng để mua ma túy và tiêu xài cá nhân.

Lần thứ hai: Vào khoảng 12 giờ ngày 17/10/2024, L tiếp tục điều khiển xe mô tô Honda Air Blade, biển số 60B9-099.77 đi đến đoạn đường nội bộ thuộc tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nơi để khung sắt của anh H lấy trộm 02 (hai) khung đem bán cho chị T với giá 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng)/1 khung sắt. Sau khi phát hiện bị mất tài sản anh H đã đến Công an phường T trình báo.

Đến khoảng 06 giờ 45 phút ngày 22/10/2024, Trần Quốc L biết hành vi trộm cắp tài sản của mình bị phát hiện nên đã đến Công an phường T để đầu thú, khai nhận về hành vi trộm cắp tài sản. Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B thụ lý theo thẩm quyền.

Vật chứng vụ án gồm:

  • - 05 (năm) khung sắt, kích thước mỗi khung sắt kích thước 200cm x 90cm, nặng 38kg là tài sản của anh Nguyễn Văn H bị Trần Quốc L trộm cắp, sau khi trộm L mang đến bán cho chị Mai Thị T, chị T đã bán lại cho người khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade biển số 60B9-099.77, số khung RLHJF2708BY395789, số máy JF27E1258327 là tài sản của anh Trần Huỳnh H1 (là anh trai Trần Quốc L), L mượn để đi lại anh H1 không biết L sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade biển số 60B9-099.77 cho anh H1;
  • - 01 USB có chứa đoạn video ghi nhận hình ảnh của Trần Quốc L khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tạm giữ, được lưu tại hồ sơ vụ án;

Tại bản kết luận định giá tài sản số 357/KL-HĐĐGTS ngày 24/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B đã kết luận: 03 (Ba) khung sắt, kích thước 200cm x 90cm, trọng lượng 38kg trị giá 3.420.000₫ (Ba triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng), 02 (Hai) khung sắt, kích thước 200cm x 90cm, trọng lượng 38kg, trị giá 2.280.000đ (hai triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng).

Về dân sự: Anh Nguyễn Văn H không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

Tại Cáo trạng số 45/CT-VKS-BH ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trần Quốc L về tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Quốc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo từ 08 đến 12 tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 10 giờ ngày 16/10/2024 tại đoạn đường nội bộ thuộc tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Trần Quốc L đã có hành vi trộm cắp 03 (Ba) khung sắt trị giá 3.420.000₫ (Ba triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng) của anh Nguyễn Văn H.

Vào khoảng 12 giờ ngày 17/10/2024, L tiếp tục đến đoạn đường nội bộ thuộc tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, trộm cắp 02 (Hai) khung sắt trị giá 2.280.000đ (hai triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) của anh Nguyễn Văn H.

Tổng giá trị tài sản L đã trộm cắp là 5.700.000đ (Năm triệu bảy trăm nghìn đồng).

Với hành vi trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trần Quốc L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt:

  • Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, nên cần có hình phạt nghiêm đối với bị cáo.
  • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải; đầu thú theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự nêu trên. Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn H không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • 05 (năm) khung sắt, kích thước mỗi khung sắt kích thước 200cm x 90cm, nặng 38kg là tài sản của anh Nguyễn Văn H bị Trần Quốc L trộm cắp, sau khi trộm L mang đến bán cho chị Mai Thị T, chị T đã bán lại cho người khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade biển số 60B9-099.77, số khung RLHJF2708BY395789, số máy JF27E1258327 là tài sản của anh Trần Huỳnh H1 (là anh trai Trần Quốc L), L mượn để đi lại anh H1 không biết L sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade biển số 60B9-099.77 cho anh H1;
  • 01 USB có chứa đoạn video ghi nhận hình ảnh của Trần Quốc L khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tạm giữ, được lưu tại hồ sơ vụ án;

[7] Đối với chị Mai Thị T (chủ tiệm mua bán phế liệu) đã mua 05 khung sắt do L mang đến bán, khi mua chị T không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý hình sự đối với chị T.

[8] Đối với nam thanh niên không rõ nhân thân lai lịch, L khai đã bán ma túy cho L sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định.

[9] Quá trình điều tra anh Nguyễn Văn H trình bày anh bị mất tổng cộng 13 khung sắt, tuy nhiên Trần Quốc L chỉ thừa nhận lấy trộm 05 khung sắt của anh H sau đó mang bán cho chị Mai Thị T, chị T xác định chỉ mua 05 khung sắt do L mang đến bán. Ngoài lời khai của anh H không có tài liệu để chứng minh, do đó không đủ cơ sở xác định L lấy trộm toàn bộ 13 khung sắt của anh H.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[11] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Quốc L 08 (T1) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/10/2024.

  1. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Quốc L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 54/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc L phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger