|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 54/2025/HS-ST Ngày 12-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hội và bà Lò Thị Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Yến, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Quàng Văn T, sinh ngày 25/02/2002 tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Quàng Văn M (Đã chết) và bà Quàng Thị P; chưa có vợ con; tiền án: Không.
Có 01 tiền sự: Ngày 26/12/2022 Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 20 tháng; chấp hành xong ngày 25/8/2024 (Chưa được xoá tiền sự).
Bị bắt tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 50 phút, ngày 23/12/2024 tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại tiểu khu Chè Đen 1, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu (nay là tổ dân phố Chè Đen 1, phường Thảo Nguyên, thị xã Mộc Châu) tiến hành kiểm tra đối với Quàng Văn T đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện Quàng Văn T đang cầm trên tay 01 gói giấy màu trắng bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine và 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng 04 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine. T khai nhận đó là ma tuý của T cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định.
Ngày 23/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành xác định khối lượng cục chất bột màu trắng được 0,19 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu T1; xác định khối lượng 04 viên nén màu hồng được 0,36 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu T2.
Tại Kết luận giám định số 107/KL-KTHS ngày 25/12/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19 gam. Mẫu ký hiệu T2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,36 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên toà Quàng Văn T khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 23/12/2024 T mang theo số tiền 1.200.000 đồng từ nhà đi xe khách xuống huyện Mộc Châu (nay là thị xã Mộc Châu) tìm việc làm thuê, khi đến khu thị trấn Nông Trường Mộc Châu, T xuống xe và trả tiền xe hết 200.000 đồng, T đi bộ trên đường dân sinh thuộc tiểu khu Chè Đen 1 thì gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine và 04 viên hồng phiến được đựng trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T cầm trên tay tìm nơi sử dụng, trên đường đi thì gặp tổ công tác kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang, thu giữ vật chứng nêu trên.
Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu (nay là thị xã Mộc Châu), Sơn La truy tố Quàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Quàng Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo Quàng Văn T.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng mảnh giấy màu trắng, mảnh nilon màu trắng và vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Số ma túy bị tổ công tác thu giữ có nguồn gốc do bị cáo mua của một người phụ nữ không quen biết với giá 1.000.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện Mộc Châu lập vào hồi 19 giờ 00 phút, ngày 23/12/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản Kết luận giám định số 107/KL-KTHS ngày 25/12/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy; loại Heroine, mẫu T2 là ma túy, loại Methamphetamine. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ.
[3] Về khung hình phạt áp dụng: Bị cáo tàng trữ khối lượng 0,36 gam loại Methamphetamine và 0,19 gam loại Heroine mục đích để sử dụng, căn cứ Điều 4, Chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo là 0,55 gam, do đó Quàng Văn T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Về tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm chế độ, chính sách độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, đã 01 lần đưa đi cai nghiện bắt buộc do nghiện chất ma túy, nhận thức rõ tác hại của ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ, mua bán, sử dụng nhưng bị cáo đã coi thường pháp luật nên cố ý phạm tội.
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, phù hợp với quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo và không có tài sản, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng mảnh giấy màu trắng, mảnh nilon màu trắng và vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng. Xét là vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 1; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý, buộc bị cáo Quàng Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự về toàn bộ số ma tuý bị thu giữ.
[7] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, tại phiên tòa bị cáo đề nghị HĐXX miễn án phí, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
[8] Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam 45 ngày đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ khoản 1; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng mảnh giấy màu trắng, mảnh nilon màu trắng và vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng.
(Vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/01/2025 của Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mộc Châu).
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/02/2025).
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đào Ngọc Hà |
5
Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 54/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2024.
