Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HS-ST

Ngày: 17/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Kha và ông Đào Xuân Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Thị Ái Q; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1989; Tại tỉnh Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn L, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1965; Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2017;

Tiền án: 01; Ngày 26/6/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 49/2023/HSST. Đến ngày 22/9/2023 chấp hành xong án phạt tù và ngày 10/10/2023 đóng xong án phí hình sự sơ thẩm.

Tiền sự: 01; Ngày 27/12/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh B với thời hạn là 24 tháng. Tuy nhiên, đến nay bị cáo chưa đi chấp hành.

Nhân thân: Ngày 15/4/2020, bị Công an huyện Đ, tỉnh Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 350.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 03 ngày 15/4/2010.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2025 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty TNHH M1; Địa chỉ: tổ E, khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Mai H, sinh năm 1977; Nơi cư trú: đường Đ, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh; Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Trần Thị Thúy N, sinh năm 2000; Nơi cư trú: ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. ( có đơn xin vắng mặt)

- Người làm chứng:

  • + Phạm Hoài P, sinh năm 1995; Nơi cư trú: số nhà E, đường P, phường C, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
  • + Ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1980; Nơi cư trú: xóm T, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 28/12/2024 Đặng Thị Ái Q điều khiển xe mô tô màu xanh, nhãn Wave, BKS: 28S2 – 7402 đi từ khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đến khu vực đường bờ kè suối thuộc phường T, thành phố Đ tìm kiếm nhà dân để tài sản sơ hở lấy trộm. Khi Q đi đến cổng phụ của CÔNG TY TNHH M1 (phòng khám B) thuộc khu phố T, phường T (do bà Nguyễn Thị Mai H, sinh năm 1977, trú tại đường Đ, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh làm chủ) thì phát hiện có một căn nhà cổng không khóa, phía bên trong có 01 cái thang bằng nhôm nên Q dựng xe mô tô ở bên ngoài rồi đi vào bên trong để lấy trộm thang nhôm. Tuy nhiên, cùng lúc này anh Phạm Hoài P, sinh năm (SN) 1995 cư trú số nhà E, đường P, phường C, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (là nhân viên của phòng khám B) đi từ trong phòng khám ra cổng thấy Q đi vào tưởng Q đi khám bệnh nên nói “phòng khám bên này nè chị ơi” và chỉ đi sang phòng khám bên cạnh cách cổng phụ khoảng 50m. Do sợ bị anh P phát hiện nên Q không lấy trộm thang nhôm mà giả vờ là bệnh nhân rồi đi qua phòng khám B để khám bệnh. Khi vào trong phòng khám B thì Q phát hiện dưới hộc bàn làm việc (hộc kéo của bàn làm việc không đóng) của chị Trần Thị Thúy N, SN 2000 (là nhân viên thu tiền khám bệnh của phòng khám) cư trú ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước) có số tiền 4.800.000đ nên Q lấy số tiền bỏ vào túi áo khoác. Sau đó, Q đi ra ngoài rồi điều khiển xe mô tô đến quán nước ở phường T, thành phố Đ uống nước. Tại đây, Q mua ma túy của 01 đối tượng tên M (không rõ nhân thân, lai lịch) để sử dụng. Sau đó, Q tiêu xài cá nhân hết số tiền 2.200.000đ, còn số tiền 2.600.000đ thì Quyền cất giữ.

Đến ngày 02/3/2025 Q biết mình đang bị lực lượng Công an truy tìm nên đã đến Công an phường T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Đồng thời giao nộp số tiền 2.600.000đ và 01 xe mô tô, BKS: 28S2 -7402.

Tại bản Cáo trạng số 50/CTr-VKS-ĐX ngày 20/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo Đặng Thị Ái Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Thị Ái Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử xử phạt bị cáo Đặng Thị Ái Q mức án từ 15 đến 18 tháng tù giam.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại một phần tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng đề nghị tịch thu 01 xe mô tô biển số 28S2-7402.

Bị cáo Đặng Thị Ái Q tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của đại diện bị hại; người làm chứng, phù hợp với biên bản người phạm tội ra đầu thú, vật chứng của vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tranh tụng công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy để sử dụng nên vào ngày 28/02/2025, Đặng Thị Ái Q đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 4.800.000 đồng của CÔNG TY TNHH M1 (phòng khám B) thuộc khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước do bà Nguyễn Thị Mai H làm đại diện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đã thành niên, hoàn toàn nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích để có tiền tiêu xài và mua ma túy để sử dụng nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại, là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án (Ngày 26/6/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 49/2023/HSST. Đến ngày 22/9/2023 chấp hành xong án phạt tù và ngày 10/10/2023 đóng xong án phí hình sự sơ thẩm) và 01 tiền sự (Ngày 27/12/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh B với thời hạn là 24 tháng. Tuy nhiên, đến nay bị cáo chưa đi chấp hành) nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Ngày 15/4/2010, bị Công an huyện Đ, tỉnh Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 350.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 03 ngày 15/4/2010

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã trả lại một phần tài sản chiếm đoạt, sau khi phạm tội đã đến Công an đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

[6] Đối với đối tượng tên M là người bán ma túy cho bị cáo Đặng Thị Ái Q (theo lời khai của Q), quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không có căn cứ xử lý, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại một phần tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về vật chứng của vụ án:

Đối với xe mô tô, BKS: 28S2 -7402 mà bị cáo Q sử dụng vào việc phạm tội thì qua xác minh xác định xe mô tô trên mang tên anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1980, trú tại Xóm T, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Anh Đ khai nhận xe mô tô trên là của anh Đ và Đ đã bán lại cho 01 cửa hàng mua, bán xe cũ (không rõ địa chỉ) ở thị trấn K, tỉnh Hòa Bình. Còn bị cáo Q khai nhận xe mô tô trên là Q mua lại của 01 người không rõ nhân thân, lai lịch ở xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, khi mua xe không làm giấy tờ mua bán và xe không có giấy chứng nhận đăng ký xe. Ngày 09/4/2025, Công an tỉnh B đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu của xe mô tô trên nhưng đến nay không có ai đến nhận. Do đó, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Ái Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Đặng Thị Ái Q 01(một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2025.

3. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô, BKS: 28S2 -7402.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0002359 quyển số 0048, ký hiệu D47/2017 ngày 06/6/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài)

4. Về án phí sơ thẩm:

Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND Thành phố Đồng Xoài;
  • - CCTHADS Thành phố Đồng Xoài;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Phòng PC01 Công an tỉnh Bình Phước;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Bình Phước;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 54/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger