Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HS-ST

Ngày: 17/3/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.
Thẩm phán: Bà Trương Thị Anh .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh Lơi.
Ông Nguyễn Trọng Thúy.
Ông Lê Quang Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Lê Văn Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 17/3/2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa và điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh T xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 23/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 28/02/2025, đối với bị cáo:

Giàng A Lâu: sinh ngày 09/6/2002; CCCD: [...]; Nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: H'Mông; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Giàng A G - sinh năm 1984, con bà Sùng Thị G1 - sinh năm 1985; Vợ: Sùng Thị P - sinh năm 2001, có 03 con (lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2024); Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/8/2024 đến ngày 21/8/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh T; Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo:

  • - Luật sư Lê Như T - thuộc Công ty L2 - Đoàn luật sư tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
  • Địa chỉ: Số G T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
  • Bà Lê Thu H, trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.

1

Địa chỉ: Số C Đại lộ L, phường Đ, thành phố T.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Giàng Thị D, sinh năm 1997. Vắng mặt.

Địa chỉ: Bản Ú, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng: anh Hà Văn G2, sinh năm 1994. Vắng mặt.

Địa chỉ: Bản Đ, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 15/8/2024, tại khu vực bản Đ, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh T phát hiện một nam thanh niên đang điều khiển xe mô tô BKS 36K1-085.84 màu đen đỏ có biểu hiện nghi vấn nên dừng xe kiểm tra, phát hiện Giàng A L đang vận chuyển 01 (một) khối hình hộp, kích thước (28x17x12)cm, bên ngoài bọc lần lượt các lớp nilon màu trắng, lớp giấy bạc màu trắng, bên trong có 15 (mười lăm) gói được bọc lớp giấy màu trắng, bên trong mỗi gói có các túi nilon màu xanh và màu hồng, đều có các viên nén hình trụ tròn màu xanh và màu hồng; 01 (một) khối hình hộp, kích thước (15x10x7,5)cm, bên ngoài bọc lần lượt các lớp nilon màu trắng, màu xanh, lớp giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 (một) khối hình hộp, kích thước (11x17x7)cm, bên ngoài bọc lần lượt các lớp nilon màu trắng, màu xanh, lớp giấy bạc màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 (một) khối hình hộp, kích thước (15x14x10)cm, bên ngoài bọc các lớp nilon màu trắng, lớp giấy bạc màu trắng, bên trong có 06 (sáu) khối hình hộp kích thước bằng nhau, mỗi khối đều được bọc lớp nilon màu trắng, màu xanh, màu vàng, bên trong có chứa chất bột dạng rắn, màu trắng được cất giấu trong một ba lô màu đen, để ở gác ba ga xe mô tô. Giàng A L khai nhận đây là ma túy L vận chuyển để lấy tiền công.

Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật nghi là ma túy; 01 xe máy nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ - đen, BKS 36K1-08584; số tiền 2.500.000đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A15 màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng.

* Quá trình điều tra, Giàng A L khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 14/8/2024, Giàng A L đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi qua mạng xã hội từ ứng dụng Messenger (Tên facebook YuavKoj) của Giàng A D1 (sinh năm 2003, trú tại bản Trung Thắng, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa) là người cùng bản với L đặt vấn đề thuê Lâu vận chuyển 6kg ma túy từ huyện M, tỉnh Thanh Hóa đến Thành phố Hà Nội với số tiền công là 50.000.000đ và dặn sáng sớm mai thì sang nhà D1 lấy xe máy Honda đang để sẵn ở sân nhà, có chìa khóa đã cắm sẵn trên xe, rồi đi ra cầu C gặp D1 nhận ma túy.

2

Khoảng 04 giờ sáng ngày 15/8/2024, L đi bộ sang nhà D1 thấy không có ai, L lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 36K1-08584 đang để ở sân (có sẵn chìa khóa cắm trên xe) đi ra khu vực cầu C. Đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, L gặp D1 tại khu vực cầu C, tại đây D1 đưa cho L 01 (một) ba lô màu đen, bên trong chứa ma túy. D1 nói với L không phải mở ba lô ra kiểm tra, đồng thời đưa cho L số tiền 2.500.000đ để chi tiêu trên đường đi. Di dặn L đi đến ngã 3 C, M, Hòa Bình thì dừng lại gửi xe máy vào quán phở nào thì báo lại cho D1 biết tên của quán phở, rồi đón xe khách đi đến bến xe Y, Thành phố Hà Nội sẽ có người liên hệ với L để nhận ma túy. Xong việc, D1 sẽ trả cho L số tiền còn lại là 47.500.000đ. Lâu xách ba lô ma túy để lên gác baga xe mô tô rồi điều khiển xe đi về hướng ngã 3 C thuộc huyện M, tỉnh Hòa Bình, còn D1 điều khiển xe mô tô đi theo phía sau Lâu. Lúc đi qua cây xăng thuộc địa phận xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa thì D1 bảo L đi trước, còn D1 dừng xe vào quán ăn phở rồi sẽ đi sau. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/8/2024, khi L đi đến đoạn đường thuộc bản Đỏ, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa thì bị tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh T phát hiện bắt quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ số ma túy trong ba lô do L đang vận chuyển (BL 102-124).

Theo lời khai của L, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, rà soát Camera an ninh của xã và nhà dân xung quanh khu vực cầu C, đoạn qua cây xăng T3. Đây là khu vực đồi núi, không gắn camera, không có người dân sinh sống nên không thu được ảnh giao dịch ma túy của Giàng A D1 và Giàng A L, như Lâu khai báo (BL 70-71). Di dùng mạng xã hội qua ứng dụng Messenger để liên lạc với L nên L không biết số điện thoại của D1. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại thu của Giàng A L, không xác định được số điện thoại của Di chỉ phát hiện trong phần ứng dụng Messenger có 05 tệp tin nhắn thoại bằng tiếng dân tộc Mông, từ tài khoản facebook “YuavKoj Hli No Ma” của Giàng A D1 đến tài khoản facebook "Trai Đi Tu” của Giàng A L. Cơ quan điều tra đã trưng cầu phục hồi, trích xuất 05 tệp tin nhắn thoại tiếng dân tộc Mông đồng thời trưng cầu phiên dịch tiếng Mông. Kết quả: Không thể hiện nội dung Giàng A D1 hướng dẫn Giàng A L vận chuyển trái phép chất ma túy (BL 52-68).

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập nhiều lần nhưng D1 đều không có mặt tại địa phương. Gia đình và chính quyền địa phương đều không biết hiện nay Giàng A D1 đi đâu, làm gì, xác định D1 đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 8/2024. Thu thập nhân thân, lai lịch, hình ảnh của Giàng A D1 tiến hành nhận dạng. Cơ quan điều tra Công an tỉnh T đã ra Quyết định tạm hoãn xuất cảnh và Quyết định truy tìm người đối với Giàng A D1 (BL 131-161).

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX màu đỏ, đen BKS 36K1 - 085.84 là của Giàng Thị D đã mua và đăng ký từ đầu năm 2023 với số tiền là 27.000.000đ (hai mươi bảy triệu đồng) để làm phương tiện đi lại. Khoảng ngày 10/8/2024, em trai D là Giàng A D1 mượn để đưa con đi khám bệnh đến nay vẫn chưa trả lại. Chị Giàng Thị D không biết việc D1 giao chiếc xe máy trên cho L đi đâu, làm gì. Tiến hành tra cứu xe vật chứng trong các vụ án, vụ việc. Kết quả xác định, chiếc xe

3

máy biển kiểm soát 36K1 - 085.84 không có trong danh sách xe vật chứng (BL 40-51).

Kết quả trưng cầu giám định; việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:

* Kết quả trưng cầu giám định:

  • - Tại bản Kết luận giám định số 3054/KL-KTHS ngày 21/08/2024 của Phòng K - Công an tỉnh thanh H1 kết luận như sau (BL 27-28):
  • + Các viên nén hình trụ tròn màu hồng gửi giám định có tổng khối lượng 2.914,44 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
  • + Các viên nén hình trụ tròn màu xanh gửi giám định có tổng khối lượng 25,83 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
  • + Các hạt tinh thể màu trắng, kí hiệu G1 gửi giám định có tổng khối lượng 927,26 gam là ma túy, loại Ketamine.
  • + Các hạt tinh thể màu trắng, kí hiệu G2 gửi giám định có tổng khối lượng 960,01 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
  • + Chất bột màu trắng dạng rắn, kí hiệu lần lượt là B1, B2, B3, B4, B5, B6 gửi giám định, có tổng khối lượng 2.071,75 gam là ma túy, loại Heroine.

* Việc thu giữ, tạm giữ vật chứng, đồ vật, tài liệu:

  • - 01 (một) ba lô hình đen đỏ kích thước (50 x 35)cm, mặt trước có in logo hình quả táo, bên trong đựng các chất ma túy, tất cả được bỏ vào một thùng catton kích thước (40x27x27)cm dán kín và niêm phong (BL 20).
  • - 01 (một) chiếc mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ - đen, Biển kiểm soát: 36K1-085.84 (BL 41).
  • - Số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A15, màu đen, màn hình cảm ứng, gắn sim có ghi số 0932610928.

Tất cả những vật chứng trên được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa chờ xử lý theo luật định.

Quá trình điều tra, Giàng A L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Đối với Giàng A D1: Quá trình điều tra, xác minh, triệu tập nhiều lần nhưng D1 đều không có mặt tại địa phương. Gia đình và chính quyền địa phương không biết hiện nay Giàng A D1 ở đâu. Việc Giàng A D1 thuê Giàng A L vận chuyển ma túy chỉ có mình lời khai của Giàng A L. Di sử dụng ứng dụng Messenger, không xác định được số điện thoại chính chủ của D3. Đến nay, Cơ quan điều tra chưa làm việc được với D1 nên chưa có đủ căn cứ để xử lý Giàng A D1 về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” trong vụ án này. Do đó, Cơ quan điều tra tách tài

4

liệu đối với Giàng A D1 để tiếp tục xác minh, làm rõ, khi có đủ căn cứ thì xử lý trong một vụ án khác.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS-P1 ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Giàng A L về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 40 BLHS, xử phạt bị cáo Giàng A L mức án tử hình.

Về hình phạt bổ sung: do bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS, đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và chiếc ba lô thu giữ trong vụ án; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 2.500.000đ và chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo; trả lại cho chị Giàng Thị D chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát: 36K1-085.84, trả lại cho bị cáo căn cước công dân số [...] mang tên Giàng A L.

* Quan điểm của Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo:

thống nhất với nội dung cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa. Xét động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo: bị cáo là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có công ăn việc làm ổn định, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên trình độ hiểu biết và nhận thức pháp luật còn hạn chế, dẫn đến có hành vi vi phạm pháp luật, đã nhận lời vận chuyển trái phép chất ma túy để kiếm lời. Tuy nhiên, xét thấy hành vi của bị cáo đã được ngăn chặn, chưa gây ra hậu quả, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, là dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật hạn chế, điều kiện hoàn cảnh của gia đình khó khăn, có 03 con nhỏ, là lao động chính trong gia đình, cũng do khó khăn mới dẫn đến việc phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo hình phạt tù giam để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên đề nghị HĐXX miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến

5

hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: vào hồi 7 giờ 30 phút ngày 15/8/2024 tại khu vực bản Đ, xã P, huyện Q, Thanh Hóa, bị cáo bị tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh T bắt quả tang về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Nguồn gốc số ma túy bị cáo khai là do Giàng A D1 (sinh năm 2003, trú tại bản Trung Thắng, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa) là người cùng bản thuê bị cáo vận chuyển từ huyện M, tỉnh Thanh Hóa đến Thành phố Hà Nội với số tiền công là 50.000.000đ. Tổng khối lượng ma túy bị cáo vận chuyển là 3.900,28 gam ma túy loại Methamphetamine, 927,26 gam ma túy loại Ketamine và 2.071,75 gam ma túy loại Heroine.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hành vi vận chuyển trái phép 3.900,28 gam ma túy loại Methamphetamine, 927,26 gam ma túy loại Ketamine và 2.071,75 gam ma túy loại Heroine để lấy tiền công của bị cáo đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự, như quyết định truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa là có căn cứ pháp luật.

[2.2] Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã phạm vào tội đặc biệt nghiêm trọng, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn. Nhận thức được tác hại của ma túy và việc vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và hình phạt đối với các hành vi phạm tội về ma túy rất nghiêm khắc, nhưng do hám lời, bị cáo đã nhận lời vận chuyển trái phép chất ma túy để lấy tiền công với số lượng ma túy rất lớn. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay làm gia tăng tệ nạn, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử lý nghiêm minh, nhằm đạt được hiệu quả trong đấu tranh phòng chống các loại tội phạm về ma túy.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có kinh tế đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết và nhận thức pháp luật còn hạn chế; nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS khi xem xét quyết định hình phạt. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội thuộc trường

6

hợp đặc biệt nghiêm trọng, với trọng lượng ma túy vận chuyển là rất lớn, nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất - loại bỏ bị cáo khỏi đời sống xã hội để đảm bảo việc đấu tranh hiệu quả đối với tội phạm về ma túy trong tình hình hiện nay.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo sinh sống ở vùng có kinh tế đặc biệt khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng:

  • - Số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Chiếc ba lô thu giữ của bị cáo không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Số tiền 2.500.000đ thu giữ của bị cáo là tiền do phạm tội mà có, nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
  • - Điện thoại di động bị cáo dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
  • - Xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát 36K1-085.84 của chị Giàng Thị D cho em trai là Giàng A D1 mượn, chị D không biết việc Giàng A L dùng xe máy của mình đi vận chuyển trái phép chất ma túy, nên trả lại cho chị Giàng Thị D.
  • - Trả lại cho bị cáo căn cước công dân số [...] mang tên Giàng A L, vì không liên quan đến vụ án.

[4] Về án phí: bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 40; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106; Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

bị cáo Giàng A L phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

bị cáo Giàng A L tử hình.

Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, được đựng trong 01 thùng giấy được dán kín niêm phong, xung quanh có các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T1, Lưu Bình N, Nguyễn Quang H2 và các hình dấu của Phòng KTHS - Công an tỉnh T (kèm theo Kết luận

7

  • số 3054/KL-KTHS ngày 21/8/2024) và 01 phong bì dán kín niêm phong, mặt sau có các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T1, Nguyễn Văn H3 và các hình dấu của Phòng KTHS - Công an tỉnh T (kèm theo Kết luận số 3054/KL-KTHS ngày 21/8/2024).
  • - Tịch thu tiêu hủy chiếc ba lô màu đen đỏ, bên trong đựng các túi nilon, giấy bạc màu trắng, lớp nilon màu trắng, các túi màu xanh, màu hồng, màu vàng (đựng trong 01 hộp cát tông dán kín niêm phong, xung quanh có các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Lưu Bình N, Nguyễn Ngọc D2 và các hình dấu của Phòng KTHS - Công an tỉnh T.
  • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo.
  • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung (đựng trong 01 phong bì được dán kín niêm phong, mặt trước ghi “cv 2750/CSMT ngày 07/10/2024”, mặt sau có các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Nguyễn Ngọc D2, Trần Thị H4 và các hình dấu của Phòng KTHS - Công an tỉnh T.
  • - Trả lại cho chị Giàng Thị D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát 36K1-085.84, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong.
  • - Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân số [...] mang tên Giàng A L.

Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 59/2025/TV-CTHADS ngày 23/01/2025. Số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) đã nộp vào tài khoản số 3949.0.1054196.00000 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa mở tại kho bạc Nhà nước tỉnh Thanh Hóa, theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 21/01/2025.

Về án phí:

miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo được quyền gửi đơn xin ân giảm án tử hình lên Chủ tịch nước xem xét.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an tỉnh T;
  • - Sở Tư pháp Thanh Hóa;
  • - THAHS, THADS tỉnh T;
  • - Người tham gia tố tụng ;
  • - TỔ HC-TP TAT;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thu H5

8

- Lưu hồ sơ vụ án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN THÀNH VIÊN

PHIÊN TÒA

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

Trương Thị Anh

Nguyễn Thu Hà

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nguyễn Trọng Thúy

Lê Quang Vinh

Nguyễn Danh

Lơi

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN.

Vào hồi 10 giờ 00' ngày 17 tháng 3 năm 2025.

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu H5.

Thẩm phán: Bà Trương Thị Anh .

9

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh L1.

Ông Lê Quanh V. Ông Nguyễn Trọng T2.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 23/01/2025 đối với bị cáo Giàng A L: sinh 2002; nơi cư trú: bản T, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1/ Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Kết quả biểu quyết: thống nhất 5/5.

2/ Các chứng cứ, tài liệu thu thập trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

Kết quả biểu quyết: thống nhất 5/5.

3/ Đủ căn cứ kết tội bị cáo Giàng A L về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 250 BLHS.

Kết quả biểu quyết: thống nhất 5/5.

4/ Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Căn cứ: Điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 40; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106; Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Giàng A L phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: bị cáo Giàng A L tử hình.

Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Kết quả biểu quyết: thống nhất 5/5.

5/ Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

Kết quả biểu quyết: thống nhất 5/5.

6/ Về án phí: miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Kết quả biểu quyết: thống nhất 5/5.

7/ Về vật chứng:

10

  • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, được đựng trong 01 thùng giấy được dán kín niêm phong, xung quanh có các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T1, Lưu Bình N, Nguyễn Quang H2 và các hình dấu của Phòng KTHS - Công an tỉnh T (kèm theo Kết luận số 3054/KL-KTHS ngày 21/8/2024) và 01 phong bì dán kín niêm phong, mặt sau có các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T1, Nguyễn Văn H3 và các hình dấu của Phòng KTHS - Công an tỉnh T (kèm theo Kết luận số 3054/KL-KTHS ngày 21/8/2024).
  • - Tịch thu tiêu hủy chiếc ba lô màu đen đỏ, bên trong đựng các túi nilon, giấy bạc màu trắng, lớp nilon màu trắng, các túi màu xanh, màu hồng, màu vàng (đựng trong 01 hộp cát tông dán kín niêm phong, xung quanh có các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Lưu Bình N, Nguyễn Ngọc D2 và các hình dấu của Phòng KTHS - Công an tỉnh T.
  • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo.
  • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung (đựng trong 01 phong bì được dán kín niêm phong, mặt trước ghi “cv 2750/CSMT ngày 07/10/2024”, mặt sau có các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Nguyễn Ngọc D2, Trần Thị H4 và các hình dấu của Phòng KTHS - Công an tỉnh T.
  • - Trả lại cho chị Giàng Thị D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát 36K1-085.84, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong.
  • - Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân số [...] mang tên Giàng A L.

Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 59/2025/TV-CTHADS ngày 23/01/2025. Số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) đã nộp vào tài khoản số 3949.0.1054196.00000 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa mở tại kho bạc Nhà nước tỉnh Thanh Hóa, theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 21/01/2025.

Kết quả biểu quyết: thống nhất 5/5.

8/ Hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.

Kết quả biểu quyết: thống nhất 5/5.

9/ Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: không.

Kết quả biểu quyết: thống nhất 5/5.

Nghị án kết thúc vào hồi 10h30' cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

11

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN THÀNH VIÊN

PHIÊN TÒA

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

Trương Thị Anh

Nguyễn Thu Hà

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nguyễn Trọng Thúy Lê Quang Vinh Nguyễn Danh L1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

12

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở Tư pháp Thanh Hóa;
  • - THAHS, THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Người tham gia tố tụng ;
  • - TỔ HC-TP TẠT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thu Hà

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về vận chuyển trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 54/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vận chuyển trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger