Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HS-ST

Ngày 16-4-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc.
  • Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lâm.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Lê Thị Mỹ;
    • Ông Huỳnh Tuấn Hoàng;
    • Ông Trần Anh Dũng.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Ông Phan Văn Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh N, sinh năm 1995, tại tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: Ấp F, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Đặng Thị Bé S; bị cáo có vợ và 01 con; tiền sự: không;

Tiền án: Ngày 22/9/2022 bị xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 58/2022/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (đã chấp hành xong hình phạt tù), chưa được xóa án tích;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 6 năm 2024 cho đến nay, có mặt;

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh N: Ông Nguyễn Văn H– Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị hại: Ông A K, sinh năm 1998 (đã chết)

Đại diện hợp pháp của bị hại A K: Bà Y X, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

Đại diện theo ủy quyền của bà Y X: Bà Y H1, sinh năm 2001; nơi thường trú: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, nơi tạm trú: Ấp A, Xã A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, có mặt;

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn Phú Q, vắng mặt;
  2. Ông Huỳnh Thanh V, vắng mặt;
  3. Ông Đỗ Văn Đ, vắng mặt;
  4. Ông Ma Si B, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh N và A K cùng làm công nhân tại Công ty TNHH N1 thuộc khu công nghiệp T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Vào khoảng 08 giờ ngày 27/6/2024, trong quá trình kéo hàng trong khuôn viên Công ty thì N va chạm với A K gây đổ hàng của N xuống nền xưởng nên N và K phát sinh cự cãi và hẹn ra nhà vệ sinh để đánh nhau. Khi N kéo hàng xong thì đi đến vị trí làm việc lấy 01 (một) dao cán nhựa màu vàng cầm trên tay phải, đi ra khu vực nhà vệ sinh của Công ty thì gặp K, N dùng dao đâm vào vùng ngực trái làm K tử vong tại chỗ. Sau khi đâm K xong, N vứt dao tại khu vực cửa ra vào xưởng. N được các công nhân giữ lại sau đó báo cho Công an thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương tiến hành lập biên bản bắt quả tang đối với Nguyễn Thanh N.

Căn cứ Kết luận giám định tử thi số 3134/KLGĐTT-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận nguyên nhân A K chết: Vết thương thấu ngực gây thủng phổi, thủng động mạch chủ lên đoạn nằm trong bao tim;

Căn cứ Kết luận giám định số 5479/KL-KTHS(SV) ngày 17/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận máu trên con dao mà N dùng để đâm K có dính máu của K.

Về thu giữ vật chứng:

01 dao bằng kim loại liền cán dài 21,5cm, cán dao bằng nhựa, màu vàng dài 10cm, rộng 02 cm; lưỡi bằng kim loại dài 11,5cm, một cạnh sắc, mũi nhọn.

Về trách nhiệm dân sự:

Bà Y H1 đại diện cho bà Y X1 (mẹ ruột A K) yêu cầu bồi thường thiệt hại 472.726.000 đồng gồm: bồi thường tổn thất tinh thần 149.000.000 đồng, chi phí mai táng 123.726.000 đồng, chi phí phụng dưỡng mẹ già 200.000.000 đồng, hiện nay chưa bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số: 99/CT-VKSBD-P2 ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Giết người”.

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N với mức án từ 18 (mười tám) năm đến 20 (hai mươi) năm tù, về tội “Giết người”.

Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại theo quy định.

Về xử lý vật chứng: 01 dao bấm là công cụ gây án đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Thanh N gửi bản luận cứ trình bày với nội dung: thống nhất về tội danh và điều khoản mà Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã quyết định truy tố đối với bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đã áp dụng. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo về tội “Giết người” là nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhận thức về pháp luật có phần hạn chế; do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; xử bị cáo dưới mức thấp hơn mà Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo đồng ý với phần luận cứ trình bày của người bào chữa, không tranh luận, bổ sung gì thêm.

Trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm trở về đoàn tụ với gia đình và làm lại từ đầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh N theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quan cơ tiến hành tố tụng cử luật sư chỉ định bào chữa cho bị cáo là ông Nguyễn Văn H – Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. Tuy nhiên tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo vắng mặt, bị cáo có ý kiến trình bày không cần sự có mặt của người bào chữa tại phiên tòa, không yêu cầu Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, bị cáo xin tự bào chữa cho bị cáo nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử bị cáo theo quy định tại các Điều 77, 291 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: vào khoảng 08 giờ ngày 27/6/2024, tại Công ty TNHH Nội thất Goldenland khu công nghiệp T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương, do mâu thuẫn trong quá trình làm việc tại Công ty, Nguyễn Thanh N dùng dao đâm vào ngực trái của A K dẫn đến A K tử vong tại chỗ.

Bản Kết luận giám định tử thi số 3134/KLGĐTT-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận nguyên nhân A K chết: Vết thương thấu ngực gây thủng phổi, thủng động mạch chủ lên đoạn nằm trong bao tim;

Căn cứ Kết luận giám định số 5479/KL-KTHS(SV) ngày 17/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận máu trên con dao mà N dùng để đâm K có dính máu của K. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của bị hại, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân sinh sống tại khu vực, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng ngực trái của ông A K sẽ dẫn đến chết người nhưng bị cáo vẫn thực hiện; thể hiện ý thức xem thường pháp luật; xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành con người tốt.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại cũng có một phần lỗi quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Về trách nhiệm dân sự: bà Y H1 đại diện cho bà Y X(mẹ ruột A K) yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tổng số tiền 472.726.000 đồng gồm: bồi thường tổn thất tinh thần 149.000.000 đồng, chi phí mai táng 123.726.000 đồng, chi phí phụng dưỡng mẹ già 200.000.000 đồng; bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại đối với các khoản tiền chi phí mai táng là 123.726.000 (một trăm hai mươi ba triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn) đồng; tiền tổn thất tinh thần theo yêu cầu của người đại diện của bị hại, số tiền yêu cầu tại phiên tòa là 149.000.000 (một trăm bốn mươi chín triệu) đồng; riêng đối với khoản tiền chi phí phụng dưỡng mẹ già số tiền là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng bị cáo không đồng ý và yêu cầu xem xét xử lý theo quy định của pháp luật; Hội đồng xét xử, xét thấy đối với hai khoản tiền chi phí mai táng là 123.726.000 (một trăm hai mươi ba triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn) đồng; tiền tổn thất tinh thần theo yêu cầu của người đại diện của bị hại, số tiền yêu cầu tại phiên tòa là 149.000.000 (một trăm bốn mươi chín triệu) đồng giữa bị cáo và đại diện theo ủy quyền của người bị hại đã thống nhất hai khoản tiền trên theo yêu cầu của đại diện bị hại; đây là sự tự nguyện phù hợp với pháp luật Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng chi phí phụng dưỡng mẹ mà đại diện của bị hại yêu cầu theo quy định của pháp luật là không phù hợp. Bởi lẽ; bà Y X, sinh năm 1975 còn trong độ tuổi lao động, không bị mắc bệnh hiểm nghèo hoặc không còn khả năng lao động; bà Y X không sống phụ thuộc vào bị hại A K; ngoài bị hại A K bà X còn có người con gái tên Y H1; nên việc bà Y X yêu cầu bị cáo có trách nhiệm cấp tiền phụng dưỡng là không phù hợp với quy định của pháp luật nên không được chấp nhận.

[7] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về mức hình phạt áp dụng cho bị cáo và trách nhiệm về phần dân sự là phù hợp, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Ý kiến của người bào chữa chỉ định cho bị cáo là không có cơ sở nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về xử lý vật chứng: 01 dao bằng kim loại dài 21,5 cm là công cụ bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

[10] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về phần bồi thường theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Giết người”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 18 (mười tám) năm tù, về tội “Giết người”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 6 năm 2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, Điều 591 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Không chấp nhận yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại đối với phần chi phí phụng dưỡng mẹ già (bà Y X) số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Thanh N có trách nhiệm bồi thường cho đại diện hợp pháp bị hại là bà Y X (mẹ ruột của bị hại A K) số tiền 272.726.000 (hai trăm bảy mươi hai triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn) đồng
  • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  1. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại liền cán dài 21,5 cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 10cm, rộng 02cm; lưỡi bằng kim loại dài 11,5cm, một cạnh sắc, mũi nhọn, được đựng trong túi giấy màu nâu niêm phong ghi ký hiệu 5479/PC09, có chữ ký ĐTV Nguyễn Ngọc T1, KSV Trần Tấn L, KTHS Nguyễn Văn H2 và dán băng keo niêm phong màu đỏ.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương).

  1. Án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Thanh N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 13.676.000 (mười ba triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về phần bồi thường.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (Vụ GĐKT 1);
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương;
  • - Trại Tạm giam - Công an tỉnh Bình Dương (02);
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng (07);
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án, LNH, 25.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về giết người (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 54/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Nh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger