|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 54/2025/HS-ST Ngày: 14 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Tú;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Tố Như; bà Nguyễn Thị Kim Huế.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thanh - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2025/QĐXXST - HS, ngày 31 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Đỗ Thanh B; tên gọi khác: Bình méo; giới tính: Nam; sinh năm 1978; tại: Lâm Đồng; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Số H N, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông: Đỗ Tôn R và bà: Nguyễn Thị C; vợ: Nguyễn Thị P và có 01 người con sinh năm 2011;
Tiền án: Ngày 30/09/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 138/2021/HSST; Chấp hành án phạt tù xong ngày 28/12/2022, chưa được xóa án tích.
Tiền sự:
Ngày 11/01/2018 bị Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt hành chính số 42/QĐ-XPVPHC, bị cáo chưa nộp phạt.
Ngày 04/02/2021 bị Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt hành chính số 28/QĐ-XPVPHC, bị cáo chưa nộp phạt.
Nhân thân:
- + Ngày 08/05/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng theo Quyết định số 06/QĐ-TA ngày 08/05/2019 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- + Ngày 30/06/2023 bị Ủy ban nhân dân phường B1 ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường thị trấn trong thời gian 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng từ ngày 31/12/2024 đến nay, có mặt.
2. Họ và tên: Đỗ Tuấn A; tên gọi khác: T; giới tính: Nam; sinh năm 1987; tại: Lâm Đồng; nơi thường trú: Số C đường P, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nơi ở hiện nay: Số G đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Đỗ Tuấn Q và bà: Nguyễn Thị Ngọc S; vợ: Bùi Thị M và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: ngày 23/06/2014 bị Công an phường L ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đã đóng phạt ngày 24/06/2014; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng từ ngày 31/12/2024 đến nay, có mặt.
- Bị hại: Nguyễn Tất M1, sinh năm 1975; địa chỉ: Số B đường T, phường L, TP Lâm Đồng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Anh K, sinh năm 1993; địa chỉ: Số A đường H, Phường A, TP ., Lâm Đồng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 28/11/2024 do biết ở trụ sở cũ của trường tiểu học L, địa chỉ Tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng có một số tài sản người dân để tại đây và không có người trông coi nên Đỗ Thanh B gặp và rủ Đỗ Tuấn A đến trộm cắp tài sản ở đây để bán lấy tiền tiêu xài. Nghe vậy Tuấn A đồng ý. Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày Tuấn A điều khiển xe mô tô Honda Dream không rõ biển số chở B đến trường tiểu học L, khi đến nơi B và Tuấn A vào phòng học số B-7 thì thấy 01 chiếc tủ đông nhãn hiệu SANAKY màu trắng, kích thước 1357 x 761 x 900mm, dung tích 410 lít của ông Nguyễn Tất M1, nơi cư trú: Số B đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng đang để nhờ tại đây nên B cùng với Tuấn A khiêng chiếc tủ đông ra xe mô tô rồi chở đến cửa hàng thu mua đồ điện tử cũ của anh Trần Anh K, ở địa chỉ số A đường H, Phường A, thành phố B bán được 2.000.000 đồng, số tiền này Tuấn A giữ lại 1.500.000 đồng và chia cho B 500.000 đồng, sau đó cả hai đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 106 ngày 11/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Giá trị của 01 chiếc tủ đông nhãn hiệu SANAKY, kích thước 1357 x 761 x 900mm, dung tích 410 lít, tình trạng đã qua sử dụng là 2.850.000 đồng (Hai triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng).
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho ông Nguyễn Tất M1 01 chiếc tủ đông nhãn hiệu SANAKY, kích thước 1357 x 761 x 900mm, dung tích 410 lít.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Nguyễn Tất M1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự. Người liên quan anh Trần Anh K yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Tại Bản Cáo trạng số 62/CT-VKSBL ngày 03 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Đỗ Thanh B và Đỗ Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đỗ Thanh B và Đỗ Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Đỗ Thanh B từ 18 đến 24 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đỗ Tuấn A từ 06 đến 09 tháng tù và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Buộc bị cáo B có nghĩa vụ trả lại cho anh K số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng); buộc bị cáo A có nghĩa vụ trả lại cho anh K số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Các bị cáo khai nhận, đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nêu, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung cáo trạng, thấy đúng với tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố B; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên tòa các bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử thấy rằng các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về căn cứ xác định tội: Vào ngày 28/11/2024 tại phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Đỗ Thanh B cùng với Đỗ Tuấn A đã thực hiện hành vi cùng nhau trộm cắp 01 chiếc tủ đông nhãn hiệu SANAKY của ông Nguyễn Tất M1 trị giá 2.850.000 đồng. Đối chiếu lời khai của các bị cáo, bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, có đủ căn cứ khẳng định hành vi của các bị cáo Đỗ Thanh B, Đỗ Tuấn A đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015;
[3] Về tính chất mức độ, hậu quả hành của vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng cho các bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo B phạm tội khi đang có tiền án nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo A phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành, bị cáo B là người khởi xướng, bị cáo A đồng ý và cả hai đề là người thực hiện tích cực tội phạm. Do vậy cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo B cao hơn bị cáo A.
Xét cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tính răn đe, giáo dục.
[5] Về phần dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000 đồng. Tại phiên tòa các bị cáo thỏa thuận mỗi bị cáo bồi thường cho anh K số tiền 1.000.000 đồng và được anh K chấp nhận. Đây là thỏa thuận tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã giải quyết nên không đề cập trong bản án.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[8] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thanh B và Đỗ Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh B 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Đỗ Tuấn A 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2. Phần dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự buộc các bị cáo Đỗ Thanh B và Đỗ Tuấn A có nghĩa vụ liên đới trả lại cho anh Trần Minh K1 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo phần: Bị cáo B 1.000.000 đồng (Một triệu đồng); bị cáo Anh 1.000.000 đồng (Một triệu đồng);
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về án phí, lệ phí tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc ngày niêm yết bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Đình Tú |
Vào hồi giờ ngày 14 tháng 4 năm 2025;
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng;
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình T1
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim H; bà Dương Thị Tố N;
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với: Bị cáo Đỗ Thanh B, sinh năm 1978; tại: Lâm Đồng và bị cáo Đỗ Tuấn A, sinh năm 1987; tại: Lâm Đồng.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN,
BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1/ Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thanh B và Đỗ Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh B 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Đỗ Tuấn A 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Biểu quyết: 3/3;
2/ Phần dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự buộc các bị cáo Đỗ Thanh B và Đỗ Tuấn A có nghĩa vụ liên đới trả lại cho anh Trần Minh K1 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo phần: Bị cáo B 1.000.000 đồng (Một triệu đồng); bị cáo Anh 1.000.000 đồng (Một triệu đồng);
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Biểu quyết: 3/3;
3/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về án phí, lệ phí tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Biểu quyết: 3/3;
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo. Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút ngày 14 tháng 4 năm 2025.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Đình T1 |
Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 54/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: XX
