Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số 54/2025/HS-ST

Ngày 11 tháng 6 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hán Hưởng

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Bá Điền
  2. Bà Nguyễn Thị Tần

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Phạm Khắc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

1.1. Bị cáo Đào Ngọc G, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 25 tháng 11 năm 1987; Nơi thường trú: Cụm A, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Đào Ngọc T, sinh năm 1935, con bà Bùi Thị C, sinh năm 1949. Bị cáo có vợ là Đỗ Thị H, sinh năm 1988 và 02 người con; con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2025 đến ngày 13/01/2025; được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay bị cáo đang tại ngoại tại xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

1.2. Bị cáo Bùi Tiến H1, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 25 tháng 11 năm 1985; Nơi thường trú: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa lớp 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Bùi Văn S, sinh năm 1956, con bà Đỗ Thị S1, sinh năm 1959. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H2, sinh năm 1990 và 03 người con; con lớn nhất sinh năm 2020, con nhỏ nhất sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2025 đến ngày 13/01/2025; được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay bị cáo đang tại ngoại tại xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

1.3. Bị cáo Nguyễn Tiến H3, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 04 tháng 8 năm 1990; Nơi thường trú: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa lớp 12/12; Nghề nghiệp: Điều Dưỡng. Con ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1957, con bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1960. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1988 và 02 người con; con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2025 đến ngày 13/01/2025; được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay bị cáo đang tại ngoại tại xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trương Quốc H4 và bà Nguyễn Thị Quỳnh T2 - Luật sư văn phòng L - Đoàn luật sư thành phố H.

Địa chỉ: Tầng E, số C, T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. (ông H4 có mặt, bà T2 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng giữa tháng 12 năm 2024, do không có công việc ổn định và cần tiền tiêu sài cá nhân nên Đào Ngọc G, sinh năm 1987, trú tại: cụm A, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội đã lên mạng xã hội Facebook để mua 01 tài khoản cá độ bóng đá kí hiệu “T5DP30E”, mật khẩu A, đường link truy cập là www.x311y.com số tiền 2.000.000 đồng, tài khoản có hạn mức 500 điểm để cá độ bóng đá trên mạng internet. Sau đó Đào Ngọc G nói với Nguyễn Tiến H3, sinh năm 1990, trú tại: thôn B, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội về việc Giao có tài khoản cá độ bóng đá. Do Nguyễn Tiến H3 có mối quan hệ với Bùi Tiến H1, sinh năm 1985, trú tại: thôn B, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội và được H1 nhờ tìm tài khoản cá độ bóng đá nên H3 đã nói với G về việc cần tài khoản cá độ để H3 đánh bạc, G đồng ý và cấp tài khoản cá độ kí hiệu “T5DP30E01” có hạn mức 500 điểm, thống nhất quy đổi 01 điểm = 40.000 đồng để đánh bạc với H3. Sau đó H3 tách thêm 01 tài khoản cá độ bóng đá là “T5DP30E01234”, mật khẩu truy cập là Abc123456 và cung cấp tài khoản cá độ trên cho H1 để H1 thực hiện cá độ. Bản thân Giao chỉ biết người đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá là H3, còn G không biết H1 là ai. Giao thoả thuận với H3, H3 thoả thuận với H1 sẽ thanh toán tiền thắng thua bằng tiền mặt sau khi trận đấu kết thúc.

Ngày 22/12/2024, Bùi Tiến H1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra, lắp sim số 0971.556.385 và 0967.003.760 kết nối internet truy cập vào tài khoản “T5DP30E01234” để đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá tại trận đấu giữa 02 đội V và Borussia Dortmund tại giải đấu GERMANY-BUNDESLIGA I (Vô địch Cúp Quốc gia Đ1), H1 đặt cược 200 điểm, tương ứng số tiền 8.000.000 đồng kèo Borussia Dortmund chấp 0,5 bàn thắng với tỉ lệ -0,84 (tức là H1 chỉ phải trả tỉ lệ 0,84 của số tiền đặt cược, nếu trận đấu mà đội B thắng cách biệt 1 bàn trở lên thì H1 thắng cá độ và nhận đủ số tiền đặt cược). Lúc này, Đào Ngọc G đang ở địa bàn thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Kết thúc trận đấu đội B1 thắng với tỉ số 3-1, H1 thắng 200 điểm tương ứng 8.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền H1 và G đánh bạc tại trận đấu này là 400 điểm tương ứng với số tiền 16.000.000 đồng. Giao đã thanh toán cho H3 số tiền 8.000.000 đồng bằng tiền mặt và H3 đã thanh toán số tiền 8.000.000 đồng cho H1 vào ngày hôm sau.

Ngày 10/01/2025, Đào Ngọc G đã đến phòng C1 Công an tỉnh P để tự thú về hành vi Đánh bạc ngày 22/12/2024 với Nguyễn Tiến H3 đồng thời giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số IMEI1: 354865092655578, lắp sim điện thoại 0971.251.xxx, là điện thoại sử dụng để đánh bạc. Cùng ngày 10/01/2025, Nguyễn Tiến H3, Bùi Tiến H1 đã đến phòng C1 Công an tỉnh P để đầu thú và khai nhận về hành vi Đánh bạc như trên. Nguyễn Tiến H3 giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax kèm 01 sim số 0988.718.864; Bùi Tiến H1 giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra, lắp sim số 0971.556.385 và 0967.003.760 sử dụng để đánh bạc.

Tại Cơ quan điều tra Đào Ngọc G, Nguyễn Tiến H3, Bùi Tiến H1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, lời khai phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác thu thập được.

Ngày 10/02/2025, Cơ quan điều tra có gửi công văn đến Bộ T3 xác minh trang web www.x311y.com Tuy nhiên không xác minh được các thông tin liên quan đến các trang web trên.

Quá trình điều tra: Bùi Tiến H1 đã tự nguyện giao nộp 16.000.000 đồng, là tiền sử dụng để đánh bạc.

Đối với người đã bán tài khoản cho Đào Ngọc G, G không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, khi liên lạc mua bán tài khoản là qua mạng xã hội Facebook nên cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ để xử lý.

Về nguyên nhân, động cơ mục đích phạm tội: Do hám lợi bất chính nên các bị can thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra các bị can nhận thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị can Đào Ngọc G tự thú, tích cực tham gia hiến máu tình nguyện, cung cấp thông tin cho Công an xã Đ bắt vụ mua bán trái phép chất ma tuý được UBND xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội tặng giấy khen; bị can Bùi Tiến H1 đầu thú, ông nội được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, tự nguyện nộp số tiền sử dụng để đánh bạc; bị can Nguyễn Tiến H3 cung cấp thông tin cho Công an xã Đ bắt vụ Tàng trữ trái phép chất ma tuý được UBND xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội tặng giấy khen đầu thú, tích cực tham gia hiến máu tình nguyện, được Ban chấp hành công đoàn Bệnh viện đa khoa huyện Đ tặng giấy khen, hỗ trợ kinh phí cho Trung tâm dạy nghề cho T4, gia đình bị can có công với cách mạng. Các bị can không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số IMEI1: 354865092655578, lắp sim điện thoại 0971.251.xxx thu giữ của Đào Ngọc G.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra có lắp số thuê bao 0971.556.385 và 0967.003.760; số IMEI 1: 354505627907512, số IMEI 2: 359131207907510 thu giữ của Bùi Tiến H1.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu trắng, lắp sim số 0988.718.864, số IMEI1: 352192204521909; số IMEI2: 352192204541295 thu giữ của Nguyễn Tiến H3.
  • Tiền ngân hàng N1: 16.000.000 đồng là tiền sử dụng để đánh bạc.

Về điều kiện kinh tế: Đào Ngọc G cùng vợ là Đỗ Thị H có 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ403898, thử đất số 756, tờ bản đồ số 8, tại xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội, tài sản này hiện thế chấp tại ngân hàng; Nguyễn Tiến H3 có 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 327, tờ bản đồ số 21, tại xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG627452, thửa đất số 185, tờ bản đồ số 6, tại xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội đứng tên Nguyễn Tiến H3 cùng vợ là Nguyễn Thị N, tài sản này hiện đang thế chấp tại Ngân hàng; bị can Bùi Tiến H1 không có tài sản riêng gì có giá trị ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu.

Cáo trạng số 29/CT-VKSPT-P2 ngày 04 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Đào Ngọc G và đồng phạm đều phạm tội “Đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đào Ngọc G, Bùi Tiến H1 và bị cáo Nguyễn Tiến H3 đều phạm tội “Đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Về điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm s, r, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 2 Điều 321; Điều 54, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Ngọc G.

Căn cứ điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, khoản điểm c khoản 2 Điều 321, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến H3.

Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 2 Điều 321, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Tiến H1.

Về Hình phạt:

Xử phạt bị cáo Đào Ngọc G từ 27 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Bùi Tiến H1 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến H3 số tiền từ 70.000.00 đồng đến 80.000.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả ba bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, số IMEI1: 354865092655578; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra số IMEI 1: 354505627907512 và số IMEI 2: 359131297907510 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu trắng, số IMEI 1: 3521192204521909; số IMEI 2: 352192204541295 còn giá trị sử dụng để nộp ngân sách nhà nước.

Tịch thu sim điện thoại di động thu giữ số 0971.251.678; số thuê bao 0971.556.385; sim số 0967.003.760 và sim điện thoại số 0988.718.xxx không còn giá trị sử dụng để tiêu hủy.

Tịch thu tiền ngân hàng N1 16.000.000 đồng sử dụng thực hiện hành vi phạm tội để nộp ngân sách nhà nước.

Tạm giữ số tiền 80.000.000 đ (Tám mươi triệu đồng) bị cáo H3 tạm nộp để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Các bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2] Về chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo:

Khoảng tháng 12/2024, Đào Ngọc G đã giao cho Nguyễn Tiến H3 tài khoản có ký hiệu “T5DP30E”, hạn mức tài khoản 500 điểm, quy đổi 01 điểm = 40.000 đồng để đánh bạc hình thức cá độ bóng đá trên mạng Internet. Sau đó H3 đã tách thêm 01 tài khoản cá độ bóng đá là “T5DP30E01234”, mật khẩu truy cập là Abc123456 và giao lại cho Bùi Tiến H1. Ngày 22/12/2024, Bùi Tiến H1 đã sử dụng mạng Internet truy cập trang www.x311y.com nhập tài khoản “T5DP30E01234” để thực hiện hành vi đánh bạc, hình thức cá độ bóng đá trên mạng Internet, H1 đã đặt cược 200 điểm tương ứng số tiền 8.000.000 đồng trận đấu giữa 02 đội V và Borussia Dortmund tại giải đấu Vô địch Cúp Quốc gia Đ, kèo B2 chấp 0,5 bàn. Lúc này, Đào Ngọc G đang ở địa bàn thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Kết thúc trận đấu đội Borussia Dortmund thắng với tỉ số 3-1, H1 thắng 200 điểm tương ứng 8.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền H1 và G đánh bạc tại trận đấu này là 400 điểm tương ứng với số tiền 16.000.000 đồng. Đào Ngọc G và Bùi Tiến H1 đã sử dụng mạng Internet để tham gia đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc là 16.000.000 đồng, Nguyễn Tiến H3 giúp sức cho Bùi Tiến H1 đánh bạc với Đào Ngọc G. Vì vậy bị cáo Đào Ngọc G, Bùi Tiến H1, Nguyễn Tiến H3 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc theo quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 321 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất và vai trò của từng bị cáo thấy rằng:

Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo đều là nghiêm trọng; trong đó vai trò của bị cáo G và bị cáo H1 là người trực tiếp đánh bạc, còn bị cáo H3 là người trung gian, vai trò giúp sức bị cáo G và bị cáo H1 thực hiện hành vi đánh bạc. Vì vậy, cần phải xem xét tính chất, vai trò của từng bị cáo để áp dụng hình phạt tương xứng tính chất, hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[4] Xét về các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Đào Ngọc G: Bị cáo G đã đến trình báo cơ quan điều tra trước khi bị phát hiện về hành vi phạm tội của mình; bị cáo G đã tự nguyện khai báo giúp cho việc điều tra được thuận lợi và sau khi bị khởi tố vụ án, bị cáo G tố giác hành vi phạm tội trong vụ án khác giúp cơ quan điều tra Công an huyện Đ phát hiện hành vi phạm tội và khởi tố vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy tại xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội, nên bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền phạm tội, nên bị cáo được tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Tiến H3: Bị cáo H3 thành khẩn khai báo giúp cho việc điều tra được thuận lợi. Sau khi vụ án đánh bạc bị khởi tố, bị cáo H3 tố giác hành vi phạm tội giúp cơ quan điều tra phát hiện vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy tại xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội, bắt giữ người vi phạm và đã khởi tố vụ án, được xã Đ khen thưởng được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố vợ là ông Nguyễn Hữu Q là thương binh; bị cáo có công sức hỗ trợ kinh phí cho trung tâm Đ2 và tạo việc làm cho trẻ em tàn tật Việt Nam được ghi nhận và trong quá trình công tác tại Bệnh viện Đa Khoa huyện Đ có thành tích được BCH Công đoàn Đa khoa huyện Đan Phượng tặng giấy khen cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Bùi Tiến H1: Bị cáo H1 thành khẩn khai báo giúp cho việc điều tra được thuận lợi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo đã tự nguyện đầu thú về hành vi phạm tội của mình và bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền đánh bạc; bị cáo có ông nội tham gia kháng chiến được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo H1 được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

4.2 Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Đào Ngọc G, Bùi Tiến H1 và Nguyễn Tiến H3 đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4.3 Về nhân thân của các bị cáo: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội cả 03 bị cáo đều có nhân thân tốt.

Căn cứ tính chất hành vi phạm tội; căn cứ tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo Đào Ngọc G và bị cáo Bùi Tiến H1 có nơi cư trú rõ ràng, nên chỉ cần áp dụng hình phạt tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Đào Ngọc G; áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Bùi Tiến H1 và áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Tiến H3 cũng đảm bảo trừng trị, giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội, mà còn thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định:

“3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Xét thấy: Căn cứ kết quả xác minh tài sản, thu nhập của bị cáo G xác định bị cáo có tài sản là quyền sử dụng đất nhưng đang thế chấp vay tiền ngân hàng. Bị cáo H3 có tài sản nhưng đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền và bị cáo H1 không có tài sản có giá trị và cũng không có thu nhập ổn định. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đố với cả ba bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng gồm: Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, số IMEI1: 354865092655578; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra số IMEI 1: 354505627907512 và số IMEI 2: 359131297907510 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu trắng, số IMEI 1: 3521192204521909; số IMEI 2: 352192204541295. Các điện thoại các bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi đánh bạc còn giá trị sử dụng cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với các sim điện thoại thu giữ gồm số 0971.251.678; sim điện thoại thuê bao số 0971.556.xxx và sim điện thoại số 0967.003.xxx và sim điện thoại số 0988.718.xxx không còn giá trị sử dụng phải tịch thu để tiêu hủy.

Đối với số tiền ngân hàng N1 16.000.000 đồng bị cáo H1 nộp là tiền sử dụng để đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 80.000.000 đ (Tám mươi triệu đồng) bị cáo H3 tạm nộp cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Về án phí: Các bị cáo đều phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm s, r, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 2 Điều 321, Điều 54, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Ngọc G.

Căn cứ điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 2 Điều 321, Điều 35; Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến H3.

Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 2 Điều 321, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Tiến H1.

2. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đào Ngọc G, bị cáo Nguyễn Tiến H3 và bị cáo Bùi Tiến H1 đều phạm tội “Đánh bạc”.

3. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Đào Ngọc G 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 54 (Năm mươi tư) tháng; thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đào Ngọc G cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

- Xử phạt bị cáo Bùi Tiến H1 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng; thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Tiến H1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đào Ngọc G và bị cáo Bùi Tiến H1 được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến H3 số tiền 80.000.000 đ (Tám mươi triệu đồng).

- Về Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả ba bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng số IMEI1: 354865092655578; tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 Ultra số IMEI 1: 354505627907512; số IMEI 2: 359131297907510 và tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu trắng số IMEI 1: 3521192204521909; số IMEI 2: 352192204541295 để nộp ngân sách nhà nước.

- Tịch thu sim điện thoại số thuê bao 0971.251.xxx; sim điện thoại số thuê bao 0971.556.xxx; sim điệm thoại số thuê bao 0967.003.760 và sim điệm thoại sim số 0988.718.864 không còn giá trị sử dụng để tiêu hủy.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/6/2025, tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).

- Tịch thu số tiền 16.000.000 đ (Mười sáu triệu đồng) thu giữ của bị cáo (bị cáo G và bị cáo H1) nộp số TK 3949.0.9044149.00000 tại kho bạc nhà nước khu vực V1 thông qua Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 Chi nhánh tỉnh P để nộp ngân sách nhà nước.

- Tạm giữ số tiền 80.000.000 đ (Tám mươi triệu đồng) bị cáo Nguyễn Tiến H3 đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001020 ngày 10/6/2025, tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ để đảm bảo thi hành án.

5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Buộc bị cáo Đào Ngọc G, bị cáo Bùi Tiến H1 và bị cáo Nguyễn Tiến H3, mỗi bị cáo đều phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án cấp cao tại Hà Nội xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Phòng PC01, PV06 CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, AV.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hán Hưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 11/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 54/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Ngọc Giao và đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger