|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
|
Bản án số: 54/2025/HS-ST Ngày 06/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Hữu Tường
- Bà Lâm Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Nụ - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 12
Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 71/2025/TLST – HS ngày 13 tháng 2 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Dương H, sinh ngày 10/10/1970 tại tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi đăng ký thường trú: thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú hiện nay: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Dương H1 (đã chết) và bà Lê Thị T (đã chết), vợ con: chưa có, tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2024 đến nay, bị cáo có mặt.
Những người tham gia tố tụng khác:
* Người bị hại: Ông Bùi Tá S, sinh năm: 1983; nơi cư trú hiện nay: 24/13/6/2 đường H, khu phố E, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Hồng S1, sinh năm: 1994; nơi cư trú hiện nay: số D đường số I, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm: 1987; nơi cư trú hiện nay: 4 A3 H, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Lê Thành Â, sinh năm: 1970; nơi cư trú hiện nay: B đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1974; nơi cư trú hiện nay: B đường P, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Công ty TNHH MTV V; địa chỉ: A N, phường T, Thành Phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn C, sinh năm: 1987, chức vụ: Giám đốc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 25/7/2024, sau khi ăn cơm xong, Phan Dương H gửi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 59S3-285.06 tại quán C2 gần cầu vượt T (chưa rõ địa chỉ) rồi đi bộ tìm tài sản để trộm cắp. Đến 02 giờ 57 phút ngày 26/7/2024, H đi đến nhà của ông Bùi Tá S, địa chỉ số B đường H, khu phố E, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện cửa không khóa nên H đi vào lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax để dưới nền gạch cất giấu vào trong túi quần rồi đi ra ngoài tiếp tục tìm tài sản để lấy trộm nhưng không trộm cắp được gì nên quay lại quán cơm lấy xe đi về phòng trọ địa chỉ số D, đường số I, khu phố C, phường B, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, Hởi kiểm tra phát hiện điện thoại vừa trộm được bị bể mặt sau, Hởi tắt nguồn rồi điều khiển xe mô tô biển số đến quán nước mía Trúc M địa chỉ: số C đường số A, khu phố D, phường B, Thành Phố T, Thành phố Hồ Chí Minh gọi điện thoại cho Trần Hồng S1 đến quán. Tại đây, H bán cho S1 điện thoại vừa trộm cắp được số tiền 1.200.000 đồng, H nói điện thoại này mua của một người đàn ông không rõ lai lịch ở khu vực chợ Đ T, không nói điện thoại này là do H trộm cắp mà có.
Ngày 26/7/2024, ông Bùi Tá S đến Công an phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc. Qua truy xét, cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q mời Phan Dương H về trụ sở làm việc. Tại đây, Phan Dương H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên nên Công an phường H hồ sơ chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q xử lý và thu hồi được chiếc điện thoại.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 200/KL-HĐĐGTS ngày 08/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax trị giá 5.500.000 (năm triệu năm trăm ngàn) đồng (BL 52-53).
* Vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, số Imei 1: 353906107852007, số Imei 2: 353906107815046, là điện thoại Hồ N mua của Phan Dương H. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho ông Bùi Tá S (BL 203).
- 01 xe mô tô Honda Wave, màu đỏ, biển số 59S3-285.06, số máy: HC09E6253788, số khung RLHHC09096Y253745. Qua xác minh, xe mô tô trên do Nguyễn Thành T1 đứng tên đăng ký sở hữu. Tháng 12/2019, T1 bán xe mô tô biển số 59S3-285.06 cho ông Lê Thành Â, địa chỉ: B đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến tháng 8/2022, ông  bán xe mô tô trên cho bà Nguyễn Thị Kim L, việc mua bán không làm hợp đồng sang tên, đến tháng 9/2023, bà L cho H mượn xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại, cơ quan điều tra Công an Q đã trả xe mô tô cho bà L (BL 148-154; 208-210).
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71, số Imeil: 353408113972325, số Imei2: 353409113972323, là điện thoại cá nhân của H dùng để sử dụng.
- 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh liên quan đến vụ việc trộm cắp tài sản (lưu hồ sơ vụ án).
* Đồ vật tạm giữ:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh xám đen, biển số 59B1-515.16, số máy G3D4E662951, số khung RLCUG0610JY636622. Qua xác minh, xe mô tô do Công ty TNHH MTV V đứng tên đăng ký. Ông Nguyễn Văn C1, đại diện công ty đã ủy quyền cho ông Trần Hồng S1 quản lý, sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã trả cho ông Trần Hồng S1 (BL 195- 200).
- 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 4 màu đen, số imei 012964001235285, đã qua sử dụng thu giữ của Trần Hồng S1.
* Về trách nhiệm dân sự:
Ông Bùi Tá S nhận được tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu H bồi thường (BL 205).
Ông Trần Hồng S1 không yêu cầu H bồi thường số tiền 1.200.000 đồng đã mua điện thoại (BL 206, 207).
Bản Cáo trạng số 380/CTr-VKS ngày 22/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Quận 12 để xét xử Phan Dương H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Phan Dương H đã nhận phạm tội “Trộm cắp tài sản”, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu thể hiện tại hồ sơ vụ án, hành vi của bị cáo Phan Dương H có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Dương H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Dương H mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù. Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định.
Bị cáo Phan Dương H không có ý kiến gì đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Về dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa và không có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ phạm tội: Trên cơ sở kết quả điều tra cũng như lời khai nhận tội của bị cáo Phan Dương H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, có căn cứ xác định:
Do cần tiền tiêu xài nên Phan Dương H đã có hành vi vào nhà của ông Bùi Tá S tại địa chỉ 24/13/6/2 đường H, khu phố E, phường H, Quận A lén lút lấy trộm tài sản là 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax để dưới nền gạch, tài sản trộm cắp qua định giá 5.500.000 (năm triệu năm trăm ngàn) đồng.
Bị cáo biết hành vi của mình là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là xem thường pháp luật nhà nước, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, tạo ra dư luận xấu trong nhân dân nên bị cáo phải chịu hình phạt trước pháp luật.
Với các tình tiết nêu trên xét thấy cần thiết có một mức hình phạt thật nghiêm nhưng cũng tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả do bị cáo đã gây ra. Tại phiên tòa bị cáo trình bày do hoàn cảnh thực sự khó khăn nên bị cáo mới phạm tội để có tiền mưu sinh. Xét trong quá trình bị cáo bị tạm giam đã tỏ ra ăn năn hối cải, nhận thức được lỗi lầm của mình nên Hội đồng xét xử khi nghị án cũng cân nhắc xem xét về nhân thân, điều kiện hoàn cảnh phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và hậu quả của tội phạm để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Xét về nhân thân bị cáo Phan Dương H: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn (tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại).
Về vật chứng của vụ án:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71, số Imeil: 353408113972325, số Imei2: 353409113972323, là điện thoại Hởi dùng liên lạc để bán điện thoại, xét cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 4 màu đen, số imei 012964001235285, đã qua sử dụng thu giữ của Trần Hồng S1 xét cần trả lại cho Trần Hồng S1.
Đối với số tiền 1.200.000 đồng Hởi nhận của Trần Hồng S1 từ việc bán điện thoại, tại phiên tòa bị cáo đồng ý tự nguyện hoàn trả số tiền này cho Trần Hồng S1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Phan Dương H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Phan Dương H 06 (sáu) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày tù, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2024 đến ngày 06/3/2025 là 06 (sáu) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày. Bị cáo Phan Dương H đã chấp hành xong hình phạt tù.
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Phan Dương H nếu bị cáo Phan Dương H không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71, số Imeil: 353408113972325, số I: 353409113972323;
Trả lại cho Trần Hồng S1 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 4 màu đen, số imei 012964001235285.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 331/QĐ-VKS ngày 22/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12).
Ghi nhận việc Phan Dương H tự nguyện hoàn trả cho Trần Hồng S1 số tiền 1.200.000 (một triệu hai trăm ngàn) đồng, thi hành khi án có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Phan Dương H chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ THỊ XUÂN MAI |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
Hội thẩm nhân dân tòa |
Thẩm phán – chủ tọa phiên |
Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 54/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phan Dương H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
