|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 54/2025/HS-PT Ngày 26 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết
CácThẩm phán: Ông Lâm Thuận Tùng, bà Đào Nữ Ngọc Lan.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Ngọc Như Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 15/2025/TLPT- HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 đối với vụ án Nguyễn Thành L, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành L, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 84/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thành L, sinh năm 1983, tại An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị D; chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0141077 ngày 22/02/2019 Nguyễn Thành L bị Công an thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi bán số lô, số đề. L đã nộp phạt xong; Ngày 24/12/2019, Nguyễn Thành L bị Công an xã H, huyện C, tỉnh An Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi bán số lô, số đề. L đã nộp phạt xong. Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác, nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ, ngày 19/3/2024, Nguyễn Thành L điều khiển xe mô tô biển số 67C1- 563.65 đến chợ A1 thuộc thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang để ghi bán số lô, số đề cho những tiểu thương và người dân đi chợ. L gửi xe tại khu vực giữ xe của Ban Quản lý chợ rồi đi bộ vào bên trong khu vực chợ G bán số lô, số đề cho Nguyễn Thị Lê K, Hà Thị H (bà Ú), Nguyễn Thị Mỹ H1 và 72 người khác (không rõ họ tên địa chỉ) từ kết quả xổ số kiến thiết đài miền N như sau: Lộc bán số lô, số đề đài xổ số Bạc Liêu số tiền đánh bạc là 7.642.000 đồng; đài xổ số Bến Tre, số tiền đánh bạc là 589.000 đồng; đài xổ số B, số tiền đánh bạc là 589.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 8.820.000 đồng. Quá trình ghi bán số lô, số đề L có ghi nhận lại số tiền tổng bán số qua tờ giấy Lịch và tờ giấy A4 để biết số tiền bán được (thể hiện trên tờ giấy Lịch, tờ giấy A4). Sau khi bán số lô, số đề tại khu vực chợ thị trấn A, đến khoảng 15 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô biển số 67C1- 563.65 để đi về nhà. Trên đường về đến khu vực thuộc ấp B, xã B bị Công an xã B kiểm tra phát hiện L có hành vi bán số lô, số đề nên tiến hành lập biên bản vụ việc và tạm giữ tang vật, phương tiện, đồ vật, tài liệu có liên quan của L. Khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, trong quá trình L làm việc tại Công an xã B, thì Nguyễn Hoàng Quốc A sử dụng số điện thoại 0932.099.xxx nhắn tin qua điện thoại nhãn hiệu Itel của L số thuê bao 0939975453 mua số lô, số đề với số tiền 425.000 đồng. Sau đó, một người không rõ họ tên, địa chỉ sử dụng số điện thoại 0372.475.xxx tiếp tục nhắn tin qua điện thoại nhãn hiệu Itel của L số thuê bao 0939975453 mua số lô, số đề với số tiền 15.000 đồng.
Quá trình điều tra còn xác định vào ngày 18/03/2024, L ghi bán số lô, số đề cho nhiều người (không rõ họ tên địa chỉ) từ kết quả xổ số kiến thiết đài miền N như sau: Lộc bán số lô, số đề đài xổ số Đồng Tháp với số tiền là 9.369.000 đồng; đài xổ số thành phố H với số tiền là 960.000 đồng; đài xổ số Cà Mau với số tiền là 900.000 đồng. Đến buổi chiều cùng ngày có kết quả xổ số kiến thiết, L đối chiếu kết quả xổ số tính tiền thắng, thua của người chơi. Tổng số tiền của người chơi trúng là 30.360.000 đồng.
Ngoài ra, Nguyễn Thành L còn khai nhận: Lộc bắt đầu ghi bán số lô, số đề từ khoảng 02 tháng trước khi bị bắt, nhưng bán không liên tục, chỉ khoảng 10 ngày, L chỉ bán số lô, số đề duy nhất đài miền N, không giao nộp phơi số lô, số đề cho ai mà tự ăn thua trực tiếp với người mua số lô, số đề. L bán số lô, số đề bằng 02 hình thức: gặp bán trực tiếp, nhận tiền trực tiếp và qua tin nhắn điện thoại, nếu đồng ý bán thì sẽ nhắn tin trả lời “Ok”, không đồng ý bán thì sẽ không trả lời, thường người mua số qua tin nhắn điện thoại sẽ gặp trả tiền mua số cho L trực tiếp vào ngày hôm sau. Trong thời gian bán số lô, số đề L thu lợi bất chính số tiền 3.000.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân hết.
2
Vật chứng thu giữ: 01 sắp giấy trắng (loại giấy được cắt ra từ giấy A4) có kích cở rộng khoảng 4,5cm, dài khoảng 10 đến 11cm, một đầu được buộc bằng dây thun, có kẹp 01 tờ giấy than gần bằng kích cỡ, độ dày sắp giấy khoảng 3cm; 01 cây viết mực xanh hiệu Thiên Long, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô biển số 67C1- 563.65, số máy JA39E0662689, số khung RLHJA3900HY683627, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu sơn xanh, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y335s màu xanh, số I 860993057693637 có gắn sim di động mạng Viettel số 0862.515.xxx, đã qua sử dụng; 01 điện thoại bàn phím nhãn hiệu Itel màu đen, số Imei 35514918505383, có gắn sim di động mạng Mobifone số 0939.975453, đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 7.050.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 808/KL-KTHS ngày 02/9/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong: 02 điện thoại di động (ký hiệu: A1, A3) do Cơ quan Cảnh sát điều tra — Công an huyện C, tỉnh An Giang gửi giám định., chi tiết thể hiện trong 01 đĩa DVD dữ liệu kèm theo. Không tiến hành giám định trích xuất dữ liệu lưu trữ trong 01 điện thoại di động (ký hiệu A2) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T gửi đến giám định do không khởi động được điện thoại.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 84/2024/HS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã quyết định: tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 01 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, còn tuyên miễn hình phạt bổ sung cho Nguyễn Thành L vì hoàn cảnh khó khăn; truy thu tiền thu lợi bất chính của bị cáo, xử lý vật chứng, tính án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 01/11/2024, bị cáo Nguyễn Thành L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thành L vẫn khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, thay đổi kháng cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt với lý do bị cáo là lao động chính, gia đình khó khăn, cha mẹ mất sức lao động, bị bệnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành L, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt từ 02 đến 03 tháng tù. Đề nghị không áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành L làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[3] Về nội dung: quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thành L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Thành L trong vụ án, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Trong các ngày 18/3/2024 đến 19/3/2024 bị cáo Nguyễn Thành L đã có hành vi đánh bạc trái phép ăn tiền dưới hình thức ghi số lô, số đề của đài xổ số miền N. Ngày 18/3/2024, L ghi bán số lô, số đề cho các con bạc tổng số tiền là 11.229.000 đồng, số tiền trúng thưởng 30.360.000 đồng, tổng cộng là 41.589.000 đồng; Ngày 19/3/2024, L bán số lô, số đề cho các con bạc tổng số tiền là 8.820.000 đồng.
Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
-
[4] Yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thành L. Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trong xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội.
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi bán số lô, số đề, nộp phạt xong; bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; thể hiện sự xem thường pháp luật. Hiện tại trên địa bàn tỉnh An Giang các tội
phạm có liên quan đến đánh bạc, tổ chức đánh bạc đang có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 01 năm 03 tháng tù, là tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà bị cáo đã gây ra.
Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 15.999.000 đồng thu lợi bất chính (Biên lai thu số 0002410 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án huyện Châu Thành); đây là tình tiết mới. Cần chấp nhận quan điểm đại diện Viện kiểm sát giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
Ngoài ra, cấp sơ thẩm nhận định áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điềm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” cho bị cáo Nguyễn Thành L là chưa đúng. Bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc ngày 18/3/2024 và ngày 19/3/2024, đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm (Công văn số 01/2017/GĐ- TANDTC giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng tình tiết “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”). Cần chấp nhận quan điểm đại diện Viện kiểm sát.
- [5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- [6] Về án phí: yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành L, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 84/2024/HS-ST ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 01 (Một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án
phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Thành L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Bạch Tuyết |
6
Bản án số 54/2025/HS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 54/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
