|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2025/HS-PT Ngày: 19 - 03- 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Thủy.
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Việt Trung.
Bà Lâm Ngọc Tuyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Âu Lâm Trường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thảo, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 32/2025/TLPT-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Lê Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Văn N, sinh ngày 03 tháng 02 năm 1975 tại tỉnh Tiền Giang. Số CCCD: [...] do Cục C1 về TTXH cấp ngày 12 tháng 10 năm 2022. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Nghề nghiệp: Làm nông. Con ông Lê Văn Đ và bà Trần Thị B. Vợ: Nguyễn Thị D và có 01 người con tên Lê Thị Kim T, sinh năm 2003. Tiền sự: Không. Tiền án: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/5/2024 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị hại nhưng không có kháng cáo; Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/02/2024, Lê Văn N và Trần Văn H cùng uống rượu tại quán Ú, địa chỉ ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do anh H chậm trả tiền nợ trước đó nên Lê Văn N dùng một chén sành để trên bàn nhậu tại quán đánh liên tiếp nhiều cái vào vùng đầu, mặt của anh H và dùng chân đá vào mặt của anh H, sau đó chén rớt xuống đất bị bể. Dù được can ngăn và chén
đã bị bể nhưng N lại tiếp tục lấy một cái chén sành khác để trên bàn nhậu tại quán đánh nhiều cái vào đầu anh H gây thương tích và tiếp tục làm rớt chén xuống đất bị bể. Sau đó, N được những người có mặt tại quán tiếp tục can ngăn thì N ngừng đánh. Khi N và anh H đi đến nơi để xe tại quán để lấy xe chuẩn bị về thì N tiếp tục dùng thanh gỗ chống cửa sổ (cây vuông) của quán đánh nhiều cái lên người anh H, làm anh H bị nhiều thương tích.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 115 ngày 14/3/2024 của Bệnh viện Đ1 xác nhận tình trạng thương tích của Trần Văn H: “Gãy mỏm khuỷu trái; gãy xương mác trái; vết thương 2 cung mày #2cm và 2cm; vết thương má trái #3cm; vết thương mũi #1,5cm; vết thương thái dương - trán trái #4cm". X.Q cẳng chân trái: Gãy 1/3 dưới xương mác trái; X.Q khuỷu tay trái: Gãy mỏm khuỷu trái; C.T Scanner hàm mặt: Vỡ xương mũi”.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 97-2024/KLTTCT-TTPY ngày 26/3/2024 kết luận: "Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Văn H là 36%”, cụ thể:
- Xác định vật gây thương tích:
- + Gãy mỏm khuỷu tay trái, đã phẫu thuật, di chứng gấp duỗi cẳng tay trong khoảng trên 5°-145°. Gãy xương mũi. Gãy 1/3 dưới xương mác trái. Bốn sẹo vết thương vùng đầu: Sẹo vết thương trước đỉnh trái. Sẹo vết thương chẩm trái. Sẹo vết thương giữa đỉnh trái. Sẹo vết thương thái dương trái. Sẹo vết thương đầu trong cung mày phải. Sẹo vết thương đầu ngoài cung mày trái. Sẹo vết thương cách đầu ngoài cung mày trái khoảng 02 cm. Sẹo vết thương mũi trái. Thương tích do vật tầy gây nên.
- + Sẹo vết mổ từ khuỷu tay trái đến 1/3 trên sau cẳng tay trái. Thương tích do phẫu thuật gây nên.
- Phân tích tỷ lệ phần trăm từng vết thương:
- + Gãy mỏm khuỷu tay trái, đã phẫu thuật, di chứng gấp duỗi cẳng tay trong khoảng trên 5°-145°. Tỷ lệ: 13%
- + Gãy xương mũi. Tỷ lệ: 08%
- + Gãy 1/3 dưới xương mác trái. Tỷ lệ: 04%
- + Sẹo vết mổ từ khuỷu tay trái đến 1/3 trên sau cẳng tay trái. Tỷ lệ: 02%
- + Bốn sẹo vết thương vùng đầu: Sẹo vết thương trước đỉnh trái. Tỷ lệ: 01% ; Sẹo vết thương giữa đỉnh trái. Tỷ lệ: 01%; Sẹo vết thương thái dương trái. Tỷ lệ: 01% và sẹo vết thương chẩm trái. Tỷ lệ: 01%.
- + Sẹo vết thương đầu trong cung mày phải. Tỷ lệ: 03%
- + Sẹo vết thương đầu ngoài cung mày trái. Tỷ lệ: 03%
- + Sẹo vết thương cách đầu ngoài cung mày trái khoảng 02cm. Tỷ lệ: 03%
- + Sẹo vết thương mũi trái. Tỷ lệ: 03%”
Theo công văn số 100/CV-TTPY ngày 17/5/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh T giải thích về kết luận giám định pháp y về thương tích của Trần Văn H:
“- Sẹo mổ từ khuỷu tay trái đến 1/3 trên sau cẳng tay trái là hậu quả của vết thương gãy mõm khuỷu trái gây nên. Sẹo do phẫu thuật.
- Gãy xương mũi và sẹo vết thương mũi trái xảy ra cùng thời điểm chấn thương. Sẹo vết thương mũi trái thương tích do vật tầy (vật tầy có cạnh) gây nên. Gãy xương mũi do chén sành hay nấm đấm tay/dùng chân đá gây ra: Trung tâm pháp y không xác định.”
Theo Công văn số 496/BVĐKTG-KHT ngày 24/5/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ1 giải thích cơ chế hình thành thương tích: “Khoa chấn thương chỉnh hình-Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ1 chỉ ghi nhận tình trạng thương tích của bệnh nhân Trần Văn H tại thời điểm khám (lúc 7 giờ 00 phút, ngày 28 tháng 02 năm 2024) vì vậy, không thể giải thích: cơ chế hình thành vết thương “vỡ xoang mũi” và vết thương mũi # 1,5cm có phải do ngoại lực tác động tại cùng một thời điểm gây ra hay không.”
*Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn N 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định.
* Ngày 25 tháng 12 năm 2024, bị cáo Lê Văn N có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
* Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo Lê Văn N trình bày: Sau khi gây thương tích cho anh Trần Văn H bị cáo rất hối hận nên đã thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho anh H số tiền 30.000.000 đồng. Khi Toà án cấp sơ thẩm xét xử xong, bị cáo tiếp tục bồi thường cho anh H 40.000.000 đồng, xem như đã khắc phục xong phần hậu quả và anh H đã nộp đơn bãi nại cho bị cáo. Ngoài ra bị cáo có bổ sung xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất khó khăn, ông ngoại của bị cáo là Liệt sĩ Trần Văn C và bản thân bị cáo cũng là quân nhân xuất ngũ, trước khi phạm tội bị cáo sinh sống ở địa phương lo làm ăn chân chính và không vi phạm pháp luật, không bị xử lý với bất cứ hình thức nào. Vì vậy, bị cáo yêu cầu hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo có bổ sung
nhiều chứng cứ mới như bị cáo đã trình bày. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 03 – 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Đơn kháng cáo của bị cáo còn trong thời hạn quy định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về nội dung kháng cáo, xét thấy:
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn N thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu, cụ thể: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/02/2024, tại quán Ú, địa chỉ ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt hằng ngày mà N đã dùng hung khí nguy hiểm là 02 cái chén sành, đánh liên tiếp nhiều cái vào vùng đầu và mặt của anh H. Sau khi 02 chén sành bị rớt bể và được can ngăn, N lại tiếp tục dùng hung khí nguy hiểm là thanh gỗ vuông đánh nhiều cái lên người anh H, gây thương tích cho anh H với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 36%. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định tỷ lệ thương tích và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
[3]. Xét thấy: hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Bản án sơ thẩm căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn N 05 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng trong vụ án này bị hại cũng thừa nhận có một phần lỗi do bị hại nợ tiền của bị cáo và hẹn trả đến 04 lần nhưng đến hạn vẫn không trả nên phần nào đã tác động đến hành vi phạm tội của bị cáo. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo có bổ sung được một số chứng cứ mới, cụ thể: bị cáo đã khắc phục xong hậu quả, tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng; bị hại có đơn yêu cầu bãi nại cho bị cáo; bị cáo có ông ngoại là liệt sỹ, bản thân bị cáo là bộ đội xuất ngũ.
Từ những căn cứ như đã nêu trên, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có cơ sở phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6]. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Văn N.
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
Xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn N 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt.
2. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Huỳnh Việt Trung - Lâm Ngọc Tuyền |
Lưu Thị Thu Thủy |
Nơi nhận:
|
- TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - Phòng hồ sơ CA tỉnh Tiền Giang; - Trại tạm giam CA tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện Chợ Gạo; - VKSND huyện Chợ Gạo; - Công an huyện Chợ Gạo; - THADS huyện Chợ Gạo; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lưu Thị Thu Thủy |
Bản án số 54/2025/HS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 54/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa một phần bản án sơ thẩm
