TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 54/2025/HS-PT
Ngày: 15 tháng 4 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Phước Hưng và bà Đinh Thị Thu Hằng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 47/2025/TLPT-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Lê Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 64/2025/QĐXXPT-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025:
Bị cáo kháng cáo:
Lê Văn Đ, sinh năm 1971, tại thị xã T, tỉnh An Giang; nơi thường trú: Tổ B, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N (chết) và bà Trần Thị M (chết); vợ Nguyễn Thị H (chết) và 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 2001; Anh em ruột có 08 người, bị cáo là người thứ năm.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn Đ: Luật sư Phạm Quốc H1 và luật sư Trần Thị Minh N1 – Văn phòng luật sư Phạm Quốc H1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, địa chỉ: Số C L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
(Ngoài ra trong vụ án này các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị)
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2017, Lê Văn Đ và chị Nguyễn Thị Thúy H2 (T) có quan hệ tình cảm nam nữ, nên Đ có dùng điện thoại di động Samsung Galaxy A03S quay video chị H2 đang khỏa thân. Ngày 04/6/2024, Đ đến gặp bà Nguyễn Thị N2 (mẹ của chị H2) cho biết chị H2 thiếu tiền Đ, chị H2 không trả thì Đ sẽ đăng video khỏa thân của chị H2 lên mạng xã hội cho mọi người biết. Đến ngày 05/6/2024, Đ sử dụng điện thoại Samsung Galaxy A03S vào ứng dụng zalo “Văn Đon” của Đ gửi 01 đoạn video có hình ảnh chị H2 đang khỏa thân vào ứng dụng zalo “Nguyễn Thiện” của Nguyễn Ngọc T1 (con ruột của chị H2) và nhắn tin đe dọa, nhằm mục đích uy hiếp tinh thần buộc chị H2 đưa cho Đ 70.000.000 đồng.
Đến khoảng 04 giờ ngày 06/6/2024, Đ tiếp tục nhắn tin đe dọa, uy hiếp chị H2 bằng cách gửi đoạn video hình ảnh chị H2 đang khỏa thân vào ứng dụng zalo “Nguyễn Thiện” với mục đích đe dọa chị H2 đưa tiền cho Đ. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, chị H2 sợ mất danh dự và uy tín, nên chị H2 vay mượn được 70.000.000 đồng, rồi điện thoại cho Đ xuống nhà bà N2 tại tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, để lấy tiền và xóa video khỏa thân của chị H2. Lúc này, Đ chuyển 02 đoạn video hình ảnh chị H2 khỏa thân từ điện thoại Samsung Galaxy A03S của Đol vào điện thoại hiệu OPPO F11 của Lâm Thị N3 (con dâu của Đ), rồi Đ để điện thoại Samsung Galaxy A03S của Đol ở nhà, mục đích giữ lại đoạn video hình ảnh khỏa thân của chị H2 khi cần thiết để uy hiếp, rồi Đ cầm điện thoại OPPO F11 và điều khiển xe mô tô biển số 67N3-3815 chạy đến nhà bà N2. Trên đường đi, sợ bị gia đình chị H2 đánh, nên Đ rủ Lê Thị Ú (em gái của Đ) đi cùng đến nhà của bà N2.
Khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, khi Đ và Ú đến nhà bà N2, thì gặp chị H2, bà N2 và chị Nguyễn Thị Thúy D (chị gái của H2), chị H2 kêu chị D đưa 70.000.000 đồng cho Đ và chị H2 cầm điện thoại để xóa đoạn video khỏa thân của chị H2. Trong lúc Đ đang đếm tiền, thì bị Lực lượng Công an đến phát hiện bắt quả tang thu giữ các tang vật có liên quan và đưa Đ về trụ sở Công an làm việc. Tại Cơ quan Công an, Đ thừa nhận hành vi dùng video uy hiếp, đe dọa chiếm đoạt 70.000.000 đồng của chị H2 như nội dung vụ án.
Vật chứng thu giữ: Tiền Việt Nam là 70.000.000 đồng, đã trả lại cho bị hại; 01 xe mô tô biển số 67N3- 3815, số máy 0154642, số khung 574019, nhãn hiệu HONDA, loại xe nữ, màu sơn Đỏ-xám, dung tích 97 (đã qua sử dụng); 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy, số 059603, biển số đăng ký 67N3-3815; 01 điện thoại di động OPPO F11; 01 điện thoại Samsung Galaxy A03S; 01 điện thoại OppO A94.
Tại kết luận giám định kỹ thuật số và điện tử số 900/KL-KTHS ngày 21/7/2024, của Phòng K- Công an tỉnh A, Kết luận:
3
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trên 02 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD gửi giám định.
- Trích xuất 26 ảnh từ dữ liệu 02 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T, tỉnh An Giang gửi giám định, chi tiết thể hiện trong phụ lục kèm theo.
Tại kết luận giám định kỹ thuật số và điện tử số 901/KL-KTHS ngày 25/9/2024, của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận:
- Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 03 điện thoại di động (ký hiệu: A1, A2, A3) do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã T gửi giám định, chi tiết thể hiện trong đĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo giao cho Cơ quan điều tra.
- Kèm theo kết luận giám định: Đĩa DVD nhãn hiệu RISHENG, có tổng dung lượng 3,02GB, trên đĩa có ghi “Vụ: 901/KL-KTHS ngày 25 tháng 9 năm 2024" và chữ ký của Giám định viên Giáp Thanh T2.
- H3 lại đối tượng giám định: Còn nguyên vẹn và hoàn trả lại cho cơ quan gửi giám định.
Căn cứ Biên bản kiểm tra điện thoại di động vào lúc 14 giờ 35 phút ngày 06/6/2024, của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thị xã T, kiểm tra: 01 điện thoại di động OPPO F11 màu xanh, số IMEI khe 1: 869035049341833, số IMEI khe 2: 869035049341825, có gắn sim số thuê bao: Sim1 0335109051.
Qua kiểm tra: Trong nick Zalo Lâm N4 phát hiện đã nhận 02 đoạn video hình ảnh khỏa thân 01 người phụ nữ từ nick Zalo tên Văn Đ1, thời gian từ 12 giờ 18 phút. Ngoài ra, không phát hiện gì khác có liên quan đến vụ án.
* Căn cứ Biên bản kiểm tra điện thoại di động vào lúc 15 giờ 12 phút ngày 06/6/2024, của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thị xã T, kiểm tra: 01 điện thoại di động SAMSUNG Galaxy A03S màu Đen, số IMEI khe 1: 350060032856494, số IMEI khe 2: 357438812856491, có gắn sim số thuê bao: Sim1 0963741721, Sim2 0946591455, số sêri: R9PT70EWDCE.
Qua kiểm tra phát hiện:
- Vào ngày 05/6/2024: Nick Zalo Văn Đ1 đã gửi đoạn video hình ảnh khoả thân 01 người phụ nữ đến Nick Z tên Nguyễn T1 và có nội dung tin nhắn kèm theo "may nho mo may ma sem nhe".
- Vào ngày 06/6/2024: Nick Zalo Văn Đ1 đã tiếp tục gửi tin nhắn đến N5 tên Nguyễn T1 có nội dung nhắn tin: "Tham me may hua hom nay tra tien cho tao.neu k co tao se cho cong dong mang deu biet.bo mat tot xau cua may ra sao.de thang chong may noi may tot lam.tao se gui cho chong may xem roi chong may se biet may nhu the nao.chac ngay xua toi gio may lam tien nhung nguoi dan ong qua nhieu phai k tham".
4
- Nick Zalo Văn Đ1 đã gửi 02 đoạn video hình ảnh khoả thân 01 người phụ nữ đến Nick Z tên Lâm N4. Ngoài ra không phát hiện gì khác có liên quan đến vụ án.
- Căn cứ Biên bản kiểm tra điện thoại di động vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 07/6/2024, của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thị xã T, kiểm tra: 01 điện thoại di động OPPO A94 màu Tím, số IMEI khe 1: 863271055662699, số IMEI khe 2: 863271055662681.
Qua kiểm tra trong N5 được phát hiện:
Vào ngày 06/6/2024: Lúc 04 giờ 46 phút Nick Zalo Văn Đ1 gửi tin nhắn đến N5 tên Nguyễn T1 có nội dung nhắn tin: "Tham me may hua hom nay tra tien cho tao.neu k co tao se cho cong dong mang deu biet.bo mat tot xau cua may ra sao.de thang chong may noi may tot lam.tao se gui cho chong may xem roi chong may se biet may nhu the nao.chac ngay xua toi gio may lam tien nhung nguoi dan ong qua nhieu phai k tham". Ngoài ra không, phát hiện gì khác có liên quan đến vụ án.
Tại Cáo trạng số: 02/CT-VKSTB- HS ngày 03 tháng 12 năm 2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang đã truy tố Lê Văn Đ về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định điểm d khoản 2 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên.
Người bị hại chị Nguyễn Thị Thúy H2 (T) trình bày: Hiện chị đã nhận lại số tiền 70.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng khai như nội dung cáo trạng đã thể hiện.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 06/6/2024).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/01/2025 bị cáo Lê Văn Đ kháng cáo nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội như cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về vì bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, làm công dân có ích cho xã hội.
5
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Người bào chữa cho bị cáo cho rằng: Điện thoại có tên zalo “Nguyễn T1” do cô T kết bạn với zalo của bị cáo nên bị cáo nghĩ đây là điện thoại của cô T và bị cáo đã nhắn tin vào đấy để đòi nợ tiền. Quá trình điều tra, cô T đã thừa nhận có nợ bị cáo số tiền 19.000.000 đồng nên khấu trừ số tiền nợ này thì bị cáo chỉ chiếm đoạt số tiền 51.000.000 đồng – là mức khởi điểm của điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự. Số tiền chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”. Trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đã có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo.
Trường hợp không chấp nhận giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như nêu trên, thì đề nghị xem xét lại việc Cơ quan điều tra chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 88, Điều 89 và khoản 4 Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự nên chứng cứ của của vụ án chưa được giải mã. Do có vi phạm nghiêm thủ tục tố tụng nên đề nghị huỷ án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Bị cáo Lê Văn Đ nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Lê Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 04/6/2024 đến ngày 06/6/2024 Lê Văn Đ có hành vi dùng clip nhạy cảm để nhắn tin qua zalo, gọi điện thoại cho người thân và chị H2 nhằm mục
6
đích đe doạ chị Nguyễn Thị Thúy H2 (T) để chị H2 đưa cho Đ số tiền 70.000.000 đồng thì Đ mới đồng ý xoá clip nhạy cảm. Khoảng 12 giờ 50 ngày 06/6/2024, tại nhà bà N2 (mẹ ruột của H2) thuộc tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, H2 kêu chị D (chị gái H2) đưa 70.000.000 đồng cho Đ và chị H2 cầm điện thoại để xóa đoạn video khỏa thân. Trong lúc Đ đang đếm tiền, thì bị lực lượng Công an đến phát hiện bắt quả tang.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử Lê Văn Đ về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Văn Đ thì thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo cho rằng cần khấu trừ 19.000.000 đồng bị hại nợ của bị cáo để xác định giá trị tài sản chiếm đoạt là không có căn cứ chấp nhận. Trường hợp bị cáo có chứng cứ chứng minh việc bị hại nợ tiền của bị cáo thì có quyền khởi kiện vụ án dân sự khi có yêu cầu.
Tội phạm bị cáo Lê Văn D1 thực hiện đã hoàn thành, tuy chưa có thiệt hại cụ thể về vật chất nhưng hậu quả đã xảy ra, gây ảnh hưởng đến sự an toàn, danh dự, uy tín của bị hại. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn Đ, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2025/HS-ST ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê
7
Văn Đ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 06/6/2024).
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại S;
Trả lại cho Lâm Thị N3 01 điện thoại di động OPPO F11; Nguyễn Ngọc T1 01 điện thoại OppO A94;
Trả lại cho Lê Văn Đ 01 xe mô tô biển số 67N3- 3815 và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy, số 059603, biển số đăng ký 67N3- 3815.
(Đặc điểm theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/12/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên)
Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Văn Đ phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 200.000đ (hai trăm nghin đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Hiệp Phong |
Bản án số 54/2025/HS-PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 54/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BC: Lê Văn Đ
