Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN HIỆP

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 54/2025/HNGĐST

Ngày 25-6-2025

V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Động
  2. Ông Trương Văn Sắc

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trùng Dương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2025/TLST–HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST–HNGĐ, ngày 05 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L– sinh năm 1985

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

* Bị đơn: Anh Lê Minh P – sinh năm 1976

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

(Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị L và anh P tự quen nhau đi đến tổ chức đám cưới vào năm 2001 và đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào ngày 06/06/2003, số 64/2003, quyển số 01/2003. Sau khi cưới vợ chồng chung gia đình bên chồng tại huyện G đến năm 2021 thì chuyển về tại ấp T, xã T, huyện T.

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P đi làm về không lo cho gia đình, thường hay đi nhậu về quậy vợ con, nhiều lần cầm cây, có khi cầm dao đuổi chém vợ con. Vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 10/2024 cho đến nay.

Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung là Lê Trúc P1, sinh ngày 23/10/2002; Lê Thị Trúc Q, sinh ngày 16/06/2006; Lê Kim N, sinh ngày 30/06/2013.

Các cháu đã có giấy khai sinh và hiện đang sống chung với chị L.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị L yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L yêu cầu được ly hôn với anh Lê Minh P.

Về quan hệ con chung: Chị L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Lê Kim N, sinh ngày 30/06/2013. Không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Các cháu Trúc P1, Trúc Q đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo bản tự khai và các lời khai tại Tòa án, bị đơn anh Lê Minh P trình bày:

Anh P thống nhất với lời trình bày của chị L về quan hệ hôn nhân, có 03 người con chung, về tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận, nợ chung vợ chồng không có nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng là đúng.

Về nguyên nhân mâu thuẫn là do là do chị L đi làm xa, bỏ nhà hơn 1 tuần đến 10 ngày mới về, anh có khuyên chị L nhưng chị L không nghe, dẫn đến anh buồn đi nhậu về có quậy chửi vợ con, việc lấy dao chém chị L là chỉ để hù.

Nay tại phiên tòa:

Về quan hệ hôn nhân: Anh P không đồng ý ly hôn với chị chị L vì anh còn thương vợ, con.

Giả sử trong trường hợp Tòa án cho ly hôn thì:

Về quan hệ con chung: Anh P đồng ý giao con tên Lê Kim N, sinh ngày 30/06/2013 cho chị L trực tiếp trông nom chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, cũng không ai nợ vợ chồng.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

+ Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Lưỡng .

+ Về quan hệ con chung: Đề nghị tiếp tục giao hai cháu Lê Kim N – sinh ngày 30/06/2013 cho chị L nuôi dưỡng, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Lê Trúc P1, sinh ngày 23/10/2002; Lê Thị Trúc Q, sinh ngày 16/06/2006 đã trưởng thành chị L, anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị miễn xét. Anh P được quyền tới lui, thăm nom chăm sóc giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị L, anh P xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị miễn xét.

+ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thầm: chị L phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L được quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị L và anh P chung sống với nhau được UBND xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/06/2003 đúng theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L: Trong quá trình vợ chồng anh chị chung sống thì thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn đến năm 2023 thì mâu thuẫn thêm gay gắt. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P không quan tâm gia đình, thường hay ăn nhậu về rồi quậy chửi vợ con, nhiều lần cầm cây đuổi đánh, có lần cầm dao đòi chém chị L, từ đó vợ chồng lời qua tiếng lại và vợ chồng thường hay cự cãi dẫn đến không hạnh phúc và vợ chồng ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay.

Xét thấy: anh P, chị L chung sống với nhau bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ 2015 cả hai đã tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn chung sống lại với nhau nhưng không thành, mặt khác anh P không đồng ý ly hôn vì anh cho rằng anh còn thương vợ con và Tòa án đã nhiều lần hòa giải động viên anh chị đoàn tụ nhưng không thành, từ đó cho thấy vợ chồng anh P, chị L đã phát sinh mâu thuẫn một thời gian khá dài; Ngoài ra, chị L và anh P đã ly thân từ tháng 10/2024 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị L yêu cầu được ly hôn với anh P là có cơ sở chấp nhận.

[2] Về quan hệ con chung: xét yêu cầu của chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Lê Kim N – sinh ngày 30/06/2013, xét thấy theo biên bản tiếp xúc, ghi nhận nguyện vọng của cháu N thì nguyện vọng của cháu muốn được ở với mẹ là chị L và anh P đồng ý giao con Lê Kim N cho chị L nuôi. Do đó, yêu cầu của chị Nguyễn Thị L là có cơ sở chấp nhận. Riêng cháu Lê Trúc P1 sinh ngày 23/10/2002 và Lê Thị Trúc Q, sinh ngày 16/6/2006 đã trưởng thành chị L, anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về cấp dưỡng chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[3] Về tài sản chung: chị L, anh P yêu cầu để vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét

[4] Về nợ chung: chị L, anh P xác nhận không có, không yêu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[5] Từ những nhận định trên, căn cứ vào Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị Lưỡng .

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 175, Điều 177 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9 và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Lưỡng .

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Lê Minh P.
  2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Lê Kim N – sinh ngày 30/06/2013 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng.

Anh P được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung. Không ai được quyền ngăn cản.

  1. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về nợ chung: Chị L, anh P xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007244, ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tân Hiệp;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Hiệp;
  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - UBND xã Bàn Tân Định;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Đạo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HNGĐST ngày 25/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang về xin ly hôn

  • Số bản án: 54/2025/HNGĐST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger