|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28/5/2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Minh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Kỹ
2. Ông Trần Minh Phương.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2025/TLST-HNGĐ ngày 13/01/2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32A/2025/QÐST-HNGĐ ngày 29/4/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị Đ, sinh năm 1989. HKTT: Thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Số A đường G, thị trấn Z, huyện M, Đài Loan (Trung Quốc).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983. HKTT: Thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
(Các đương sự đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Hà Thị Đ trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T đã kết hôn từ ngày 06/01/2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân của chị và anh T vẫn hạnh phúc, hoà thuận. Cuối năm 2018 chị xuất cảnh sang Đài Loan làm việc, mâu thuẫn phát sinh từ đây, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng phai nhạt, không còn tin tưởng và tôn trọng nhau. Mặc dù anh chị và gia đình 02 bên nhiều lần hàn gắn nhưng không được. Nay chị Đ làm đơn xin ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Huy K, sinh ngày 05/11/2015. Hiện cháu K đang ở với anh T. Khi ly hôn chị Đ đề nghị giao cháu K cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 2.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Đ đề nghị không tiến hành hòa giải và xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án thông báo, triệu tập và làm việc với người thân của anh T nhiều lần, nhưng anh T không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án.
Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Vương Thị T1 mẹ đẻ của anh T, bà T1 trình bày: Bà là mẹ đẻ của Nguyễn Văn T, con trai bà vẫn ở cùng bà ở thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Năm 2015 bà có tổ chức cho con trai bà lấy cháu Hà Thị Đ và có 01 con chung là cháu Nguyễn Huy K, sinh năm 2015, cháu K đang ở với bà và con trai bà. Sau khi Tòa án đến làm việc bà T1 đã gọi điện cho con trai bà về, tuy nhiên anh T bảo không về làm việc với Tòa án; cán bộ Tòa án cũng đã gọi điện nhưng anh T không về. Nay liên quan đến việc ly hôn giữa con trai bà với cháu Đ, bà T1 không liên quan và không nhận thay và không ký vào biên bản làm việc.
Tại phiên toà nguyên đơn là chị Đ vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Đ, xử cho chị Hà Thị Đ được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: đề nghị giao cháu Nguyễn Huy K, sinh ngày 05/11/2015 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng: Chị Đ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 2.000.000 đồng/tháng đến khi cháu K đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, công nợ: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Đ phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, chị Hà Thị Đ đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T và đề nghị giao 01 con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là chị Đ hiện đang trú tại Đài Loan, bị đơn là anh Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Văn T trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã đến nhà anh T làm việc nhiều lần nhưng anh T đều không hợp tác, không gửi văn bản, không lên Tòa án làm việc. Tòa án đã tiến hành niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đ và anh T có đủ điều kiện kết hôn, khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp cần được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Sau khi kết hôn, theo chị Đ trình bày sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân của chị và anh T vẫn hạnh phúc, hoà thuận. Cuối năm 2018 chị xuất cảnh sang Đài Loan làm việc, mâu thuẫn phát sinh từ đây, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã và không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng phai nhạt, không còn tin tưởng và tôn trọng nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng chị Đ và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị Đ là có căn cứ, cần chấp nhận, xử cho chị Hà Thị Đ được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
[2.2]. Về con chung: Chị Đ và anh T có 01 con chung là Nguyễn Huy K, sinh ngày 05/11/2015, hiện cháu K đang ở với anh T. Khi ly hôn, chị Đ đề nghị giao cháu K cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, cháu K cũng có nguyện vọng được ở với anh T. Do vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định, tránh những xáo trộn không cần thiết, cần giao cháu Nguyễn Huy K cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử nhận thấy mức cấp dưỡng này là phù hợp nên cần chấp nhận.
Về tài sản chung, công nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị Hà Thị Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị Đ.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Đ được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Giao Nguyễn Huy K, sinh ngày 05/11/2015 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu K đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hà Thị Đ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 2.000.000 đồng/tháng kể từ ngày 28/5/2025 đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
3. Về án phí: Chị Hà Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận chị Đ đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000325 ngày 13/01/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Kỹ Trần Minh Phương Nguyễn Hữu M |
Nguyễn Hữu Minh |
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hà Thị Đ được ly hôn anh Nguyễn Văn T
