Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN

Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 12-2025

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hồng Thái và bà Lê Thị Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Bình Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: bà Đỗ Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 - 12-2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 78/2025/TLST - HNGĐ ngày 01/10/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 50/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 05/12/2025, giữa:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1986

Nơi thường trú: đội G, thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên

Hiện trú tại: đội A, thôn P, xã K, tỉnh Hưng Yên.

* Bị đơn: Anh Vũ Đức C, sinh năm: 1985

Nơi thường trú: đội G, thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên;

*Người làm chứng: bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1957; trú tại: đội A, thôn P, xã K, tỉnh Hưng Yên.

Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Vũ Đức C, sinh năm 1985, trú tại: Đ, Thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên vào năm 2007, hôn nhân giữa chị và anh C là hoàn toàn tự nguyện, có thời gian tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Ô, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là Triệu Việt Vương, tỉnh Hưng Yên) vào ngày 30/03/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống tại Đ, thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên. Quá trình chung sống, vợ chồng chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do bất đồng về quan điểm, lối sống. Kể từ tháng 4 năm 2025 đến nay, vợ chồng chị sống ly thân nhau, hai bên không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C để chị sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng chị có 03 người con chung là cháu Vũ Thị Thanh H2, sinh ngày 24/12/2007; cháu Vũ Thị H3, sinh ngày 29/10/2011 và cháu Vũ Đức Bảo H4, sinh ngày 31/10/2020. Kể từ khi chị và anh C sống ly thân thì khoảng một tháng sau (tức tháng 5/2025) cháu H2 và cháu H3 đã đến ở với chị tại đội 1, thôn P, xã K, còn cháu H4 đang ở với anh C. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 28 tháng 11 năm 2025, chị H có quan điểm đề nghị: do anh C không nhất trí giao cả 03 con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng nên chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H2 và cháu H3, chị nhất trí giao cháu H4 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết. Hiện nay chị làm công nhân, thu nhập khoảng từ 8 - 10 triệu đồng/tháng, chị xét thấy có đủ khả năng về tài chính, chỗ ở và thời gian để chăm lo, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung, công sức đóng góp đối với hai bên gia đình và ruộng canh tác: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: chị H khẳng định vợ chồng chị không có gì liên quan nên không yêu cầu tòa giải quyết.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 27/11/2025, bị đơn anh Vũ Đức C trình bày:

Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn cũng giống như chị H đã trình bày. Quá trình chung sống, vợ chồng anh đã xảy ra mâu thuẫn từ khoảng 06 năm nay, nguyên nhân mâu thuẫn là do khó khăn về tài chính, kèm theo việc chị H có nghe những người ngoài bàn tán anh chơi bời, cờ bạc, ngoại tình nên chị H thường xuyên nghi ngờ, ghen tuông vô cớ. Từ những lý do đó, chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống từ 05 tháng trước đây. Từ khi chị H bỏ về nhà mẹ đẻ đến nay, anh đã 02 lần đến động viên chị quay lại đoàn tụ nhưng chị không đồng ý. Cho đến khi biết chị H nộp đơn xin ly hôn đến tòa thì anh không đến động viên, khuyên bảo chị H về đoàn tụ nữa. Nay chị H xin ly hôn thì quan điểm của anh là không nhất trí, anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, anh xin được vắng mặt trong quá trình Toà án giải quyết vụ án và từ chối hoà giải.

Về con chung: Vợ chồng anh có 03 người con chung như chị H đã trình bày. Ngoài ra, vợ chồng anh không có con nuôi hay con riêng nào khác. Hiện nay cháu H2 đang học đại học, cháu H3 ở với chị H tại đội 1, thôn P, xã K; cháu H4 đang ở với anh tại đội 7, thôn C, xã T, tỉnh Hưng Yên. Trong trường hợp tòa án giải quyết cho vợ chồng anh ly hôn thì nguyện vọng của anh xin được nuôi cháu H3 và cháu H4 đến khi các cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi), anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh làm buôn bán tự do thu nhập khoảng từ 10 - 15 triệu/tháng, anh cam kết có đủ khả năng về tài chính, chỗ ở và thời gian để chăm lo, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung, công sức đóng góp đối với hai bên gia đình và ruộng canh tác: anh C không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về công nợ: vợ chồng anh không có gì liên quan nên không yêu cầu tòa giải quyết.

* Quan điểm của người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị H1 (là mẹ đẻ của chị H) trình bày: Năm 2007, gia đình bà tổ chức hôn lễ cho chị H và anh C. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị H chung sống tại thôn C, xã Ô, huyện K (nay là xã T, tỉnh Hưng Yên). Được biết, trong quá trình chung sống, vợ chồng chị H có cuộc sống không hạnh phúc, hai bên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Đến tháng 4/2025, chị H đã mang con về nhà bà ở thôn P, xã B (nay là xã K) sinh sống. Bản thân bà và gia đình đã hết mực khuyên bảo chị H trở về đoàn tụ nhưng chị H xác định là không thể tiếp tục chung sống với anh C nên cương quyết ly hôn. Do vậy, bà đã tạo điều kiện để chị H xây dựng 01 ngôi nhà nhỏ để mẹ con chị H ở. Việc bà tạo dựng chỗ ở cho mẹ con chị H là hoàn toàn tự nguyện, không liên quan gì đến tài sản chung của vợ chồng anh chị và bà cũng không đòi hỏi gì đối với chị H.

Về vấn đề con chung cũng như chị H, anh C đã trình bày. Các vấn đề khác thì bà không nắm được.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần tiến hành hoà giải đoàn tụ nhưng anh C đều vắng mặt nên không hoà giải được và phải đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn, bị đơn và người làm chứng đều vắng mặt (đều có quan điểm xin được vắng mặt). Chủ toạ phiên toà công bố toàn bộ nội dung lời khai của nguyên đơn, lời khai bị đơn, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có liên quan.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

[1]. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, người làm chứng đã tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn chưa tuân thủ nghiêm chiêm pháp luật về tố tụng dân sự.

[2]. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 228; Điều 229; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị H được ly hôn với anh C. Về con chung: tính đến ngày xét xử, cháu Vũ Thị Thanh H2 đã trưởng thành, trên 18 tuổi nên không đặt ra giải quyết; đối với cháu Vũ Thị H3 có nguyện vọng ở với chị H và hiện tại cháu đang ở với chị H nên đề nghị giao cháu H3 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; cháu H4 đang ở với anh C, nguyện vọng của anh C xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H4, chị H cũng nhất trí nên giao cháu H4 cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết. Về tài sản, công nợ, đất ruộng và công sức: không đặt ra giải quyết. Về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 26/9/2025, chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình xin ly hôn với anh Vũ Đức C và giải quyết về vấn đề con chung. Anh C có hộ khẩu thường trú tại xã T, tỉnh Hưng Yên nên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28; Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn và người làm chứng đều vắng mặt, các bên đều có quan điểm xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 228, Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Chung kết H5 trên cơ sở tự nguyện và đã được UBND xã Ô (nay là xã T) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 30/3/2007. Việc kết hôn của anh chị, chị đảm bảo đúng quy định của pháp luật nên đã xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử thấy: Lời khai của chị H, anh C, lời khai của người làm chứng cùng một số tài liệu khác thể hiện quá trình chung sống, vợ chồng anh, chị đã xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn chị H cho rằng do bất đồng về quan điểm lối sống, anh C cho rằng do hoàn cảnh kinh tế, ngoài ra do chị H nghi ngờ anh chơi bời cờ bạc, ngoại tình. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở thôn P, xã K sinh sống và vợ chồng sống ly thân nhau đã nhiều tháng nay và không còn quan tâm gì đến nhau nữa, chị H đã được mẹ đẻ là bà H1 tạo điều kiện chỗ ở để mẹ con chị H sinh sống. Thời gian đầu khi chị H bỏ về nhà mẹ đẻ, anh C có đôi lần yêu cầu chị H quay về chung sống nhưng chị không nhất trí, đến khi chị H nộp đơn đến Toà án xin ly hôn thì anh C không liên lạc gì với chị H nữa.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần thông báo cho chị H, anh C đến Toà án tham gia tố tụng nhằm mục đích hoà giải đoàn tụ nhưng chỉ có chị H có mặt, còn anh C đều vắng mặt không có lý do. Mặc dù anh C có quan điểm xin đoàn tụ nhưng không có biện pháp gì nhằm hàn gắn hạnh phúc và cũng không tham gia phiên hoà giải do Toà án tổ chức; tại biên bản lấy lời khai ngày 27/11/2025, anh có quan điểm xin giải quyết vắng mặt và từ chối hoà giải.

Từ những căn cứ nêu trên đã cho thấy tình cảm yêu thương gắn bó vợ chồng giữa chị H và anh C không còn, phản ánh đúng thực trạng hôn nhân của vợ chồng anh, chị là mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, có đủ căn cứ cho ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ chấp nhận đơn khởi kiện của chị H và giải quyết cho chị H được ly hôn với anh C để ổn định cuộc sống là phù hợp với thực trạng và đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về con chung: vợ chồng chị H có 03 người con chung là cháu Vũ Thị Thanh H2, sinh ngày 24/12/2007; cháu Vũ Thị H3, sinh ngày 29/10/2011 và cháu Vũ Đức Bảo H4, sinh ngày 31/10/2020. Tại thời điểm Toà án thụ lý vụ án thì cháu H2 chưa đủ 18 tuổi, cháu H2 có nguyện vọng ở với chị H, đồng thời chị H cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H2 đến khi cháu trưởng thành. Tuy nhiên, đến thời điểm xét xử vụ án thì cháu H2 đã trưởng thành (trên 18 tuổi) và phát triển bình thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Đối với cháu H3 hiện đang ở với chị H, nguyện vọng của cháu H3 mong muốn được ở với mẹ, đồng thời chị H cũng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H3 đến khi cháu trưởng thành. Đối với cháu H4, hiện tại đang ở với anh C, nguyện vọng của anh C xin được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H4 và cháu H3 đến khi các cháu trưởng thành. Xét về điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung thì thấy cả chị H và anh C đều có đủ điều kiện nhưng cả hai anh chị đều có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con nên xét thấy cần thiết giao cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H3, giao cho anh C được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H4 là phù hợp với điều kiện thực tế, phù hợp với việc chăm sóc, giáo dục các con. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H và anh C về việc không yêu cầu giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

[4]. Về tài sản, đất ruộng và công sức đóng góp, xây dựng đối với hai bên gia đình: Chị H và anh C tự nguyện không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5]. Về công nợ: Hai bên khẳng định vợ chồng không có công nợ chung nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6]. Về án phí: Chị H phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào:

  • Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 228; Điều 229; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án.

* Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Vũ Đức C.

- Về con chung: Giao cháu Vũ Thị H3, sinh ngày 29/10/2011 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc cho đến khi cháu H3 trưởng thành (đủ 18 tuổi); giao cháu Vũ Đức Bảo H4, sinh ngày 31/10/2020 cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu H4 trưởng thành (đủ 18 tuổi). Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết.

Sau khi ly hôn, chị H và anh C đều được quyền thăm gặp và chăm sóc con chung, không ai được cản trở; được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0001608, ngày 01/10/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên, chị H đã thi hành xong phần án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Trung Kiên

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Hưng Yên;

- VKSND khu vực 3 - Hưng Yên;

- Phòng THADS tỉnh Hưng Yên

- Các đương sự;

- UBND xã Triệu Việt Vương;

- THADS khu vực 3 - Hưng Yên;

- Lưu: Hồ sơ, văn phòng T.A.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị H ly hôn anh Vũ Đức C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger