TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26/11/2025
V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Lan; Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 293/2025/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 22/10/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QÐST-HNGĐ ngày 10/11/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Tăng Xuân C, sinh năm 1998.
ĐKHKTT: Thôn Đ, phường T, thành phố Hải Phòng. Nơi ở hiện nay: 1422 C, Ontario k7p O, Canada. Số hộ chiếu: P02803986 cấp ngày 30/11/2023; Số CCCD: [...], do cục Q về trật tự xã hội cấp ngày 25/10/2023. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền nộp, nhận văn bản, tài liệu cho anh C: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1971; Địa chỉ: thôn Đ, phường T, thành phố Hải Phòng. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Chị Trần Thị N1, sinh năm 2000. Số CCCD [...], do cục Q về trật tự xã hội cấp ngày 14/6/2022.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, phường T, thành phố Hải Phòng. (Vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1971; Địa chỉ: thôn Đ, phường T, thành phố Hải Phòng. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: Bà Vũ Thị K, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Thôn H, xã Y, thành phố Hải Phòng. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn anh Tăng Xuân C trình bày:
Anh và chị Trần Thị N1 tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã G, thành phố H, tỉnh Hải Dương (N là phường T, thành phố Hải Phòng) vào ngày 21/11/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng bố mẹ đẻ anh C tại thôn Đ, xã G, thành phố H, tỉnh Hải Dương (Nay là thôn Đ, phường T, thành phố Hải Phòng). Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 01 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Tháng 01 năm 2023 chị N1 nói với anh muốn đi làm xa, anh C không đồng ý nhưng chị N1 vẫn cố tình đi, khi đi không nói cho anh C biết đi đâu, làm gì, ở đâu. Anh và chị N1 đã sống ly thân từ đó đến nay, từ khi sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mỗi người đều có công việc riêng, anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị N1 để ổn định cuộc sống riêng.
- Về quan hệ con chung: Anh C và chị N1 có 01 con chung là Tăng Thiện Đ, sinh ngày 25/4/2021, khi vợ chồng đi làm ăn thì cháu Đ ở cùng với bố mẹ đẻ anh C tại thôn Đ, phường T, thành phố Hải Phòng. Anh C có nguyện vọng được nuôi con chung Tăng Thiện Đ đến khi trưởng thành và tự nguyện không yêu cầu chị N1 cấp dưỡng con chung. Nếu được nuôi con trong thời gian anh C đi lao động tại nước ngoài sẽ nhờ mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị N nuôi dưỡng, chăm sóc con giúp anh C đến khi anh về Việt Nam.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn không gửi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thông qua mẹ đẻ thể hiện chị N1 nhất trí ly hôn và đồng ý để anh C nuôi con đến khi trưởng thành; về tài sản chung, nợ chung vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của mẹ đẻ anh C là bà Nguyễn Thị N thể hiện: Về điều kiện và thời gian kết hôn của anh C, chị N1 như anh C trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng anh C, chị N1 chung sống cùng gia đình bà tại thôn Đ, xã G, thành phố H, tỉnh Hải Dương (Nay là thôn Đ phường T, thành phố Hải Phòng). Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, chị N1 đã bỏ đi làm ăn xa chỉ thỉnh thoảng liên lạc về cho anh C hỏi thăm tình hình về con chứ không về chung sống với anh C. Khi chị N1 gọi điện về bà cũng có hỏi chị N1 hiện đang ở đâu nhưng chị N1 không nói địa chỉ cụ thể, bà cũng có khuyên bảo vợ chồng về chung sống với nhau cùng nuôi dạy con chung nhưng anh chị đều nói không còn tình cảm vợ chồng nên không về chung sống với nhau. Nay anh C làm đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Vợ chồng anh C, chị N1 có 01 con chung là Tăng Thiện Đ, sinh ngày
2
25/4/2021, do bố mẹ đẻ anh C nên cháu Đ hiện ở cùng bà. Anh C có nguyện vọng xin nuôi con và nhờ bà chăm sóc cháu Đ khi anh C đi làm xa bà hoàn toàn đồng ý và tự nguyện không yêu cầu anh C, chị N1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng bà trong thời gian anh C đi làm ăn. Anh C, chị N1 không có tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp cho gia đình hai bên.
Tại biên bản lấy lời khai bà Vũ Thị K là mẹ đẻ chị N1 thể hiện: Sau ngày cưới, vợ chồng chị N1, anh C chung sống cùng bố mẹ anh C tại Thôn Đ, xã G, thành phố H, tỉnh Hải Dương (Nay là thôn Đ phường T, thành phố Hải Phòng). Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nên chị N1 có nói với bà muốn đi làm xa. Khi nghe chị N1 nói, bà đã động viên chị N1 cháu Đ còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ nhưng chị N1 không nói gì. Sau đó chị N1 bỏ đi làm ăn không ở cùng anh C. Chị N1 có gọi điện về nói với bà đang đi làm ở xa, bà hỏi làm ở đâu nhưng chị N1 không nói cho bà biết địa chỉ nơi ở, nơi làm việc của chị N1. Thỉnh thoảng chị N1 vẫn gọi điện về hỏi thăm sức khỏe vợ chồng bà. Anh C làm đơn xin ly hôn chị N1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án giao các văn bản tố tụng cho chị N1 thông qua bà, bà đã thông báo ngay cho chị N1 được biết toàn bộ nội dung, tuy nhiên chị N1 bận công việc nên không về Tòa án tham gia tố tụng được. Quan điểm của chị N1 đồng ý ly hôn anh C và đồng ý để anh C nuôi con chung trưởng hợp anh C đi làm ăn xa nhờ bố mẹ đẻ nhà chăm sóc con, chị N1 cũng nhất trí và gia đình bà cũng có trách nhiệm chăm sóc cháu cùng ông bà nội. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N1 xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung.
Tại biên bản xác minh Công an phường T, thành phố Hải Phòng cung cấp: Chị Trần Thị N1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, phường T, thành phố Hải Phòng.
Tại công văn trả lời của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an thành phố H xác định: Chị Trần Thị N1 xuất cảnh lần gần nhất ngày 21/10/2023 ra nước ngoài bằng hộ chiếu P00293582 qua cửa khẩu sân bay quốc tế N2, chưa có thông tin nhập cảnh trở lại.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 273, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án; Nghị quyết số
3
81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Tăng Xuân C ly hôn chị Trần Thị N1; Về con chung: Giao cho anh Tăng Xuân C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Tăng Thiện Đ, sinh ngày 25/4/2021 đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh C tự nguyện không yêu cầu chị N1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị N1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Tạm giao cháu Tăng Thiện Đ cho bà Nguyễn Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong thời gian anh C không có mặt tại Việt Nam. Chấp nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị N về việc không yêu cầu anh C, chị N1 cấp dưỡng tiền nuôi cháu Đ trong thời gian anh C không có mặt tại Việt Nam. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình: Không giải quyết; Về án phí: Anh Tăng Xuân C phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh C đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn chị Trần Thị N1 có nơi cư trú trước khi xuất cảnh là thôn Đ, xã G, thành phố H (nay là phường T, thành phố Hải Phòng). Căn cứ công văn số 3375/XNC – DD1 ngày 27/10/2025 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh - Công an thành phố H, chị N1 xuất cảnh gần nhất ngày 22/10/2023 bằng hộ chiếu số P00293582 qua N2, chưa có thông tin nhập cảnh trở lại. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng; đồng thời xác định quan
4
hệ pháp luật tranh chấp là ly hôn, nuôi con chung.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh C không cung cấp được địa chỉ của chị N1. Tòa án đã yêu cầu gia đình chị N1 cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được mà chỉ thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị N1 biết. Tại phiên tòa, nguyên đơn anh C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn chị N1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà N và người làm chứng bà K có quan điểm đề nghị vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Tăng Xuân C và chị Trần Thị N1 tự nguyện tìm hiểu, kết hôn với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã G (nay là phường T), thành phố Hải Phòng là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo anh C cũng như mẹ đẻ anh C và mẹ đẻ chị N1 trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Chị N1 bỏ đi làm ăn từ khoảng tháng 01 năm 2023, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, mỗi người đều có công việc riêng, không quan tâm đến nhau. Anh C làm đơn xin ly hôn, thông qua mẹ đẻ chị N1 đồng ý ly hôn anh C.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N1, anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh C, xử cho anh Tăng Xuân C ly hôn chị Trần Thị N1 là phù hợp quy định pháp luật để hai bên ổn định cuộc sống.
[2.2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng anh C, chị N1 có 01 con chung là Tăng Thiện Đ, sinh ngày 25/4/2021. Anh C có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ và tự nguyện không yêu cầu chị N1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Thông qua mẹ đẻ chị N1 cũng nhất trí để anh C nuôi con và cũng nhất trí quan điểm trong thời gian anh C đi lao động tại nước ngoài nhờ mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do vậy, cần chấp nhận sự tự nguyện của các đương sự giao con chung là Tăng Thiện Đ, sinh ngày 25/4/2021 cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, chấp nhận sự tự nguyện của anh C về việc không yêu cầu chị N1 cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình.
Trong thời gian anh C không có mặt tại Việt Nam, anh C nhờ mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị N thay anh C chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Tăng Thiện Đ. Bà N đồng ý với quan điểm của anh C, chị N1 vì vậy tạm giao cháu Tăng Thiện Đ cho bà Nguyễn Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong thời gian anh C
5
không có mặt tại Việt Nam. Chấp nhận sự tự nguyện của bà N về việc không yêu cầu anh C, chị N1 cấp dưỡng tiền nuôi cháu Đ trong thời gian anh C không có mặt tại Việt Nam.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp cho gia đình hai bên gia đình: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Sau này các đương sự có tranh chấp về tài sản sau khi ly hôn có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác.
[2.4]. Về án phí: Anh C là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 273, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tăng Xuân C, xử cho anh Tăng Xuân C ly hôn chị Trần Thị N1.
2. Về quan hệ con chung: Giao cho anh Tăng Xuân C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Tăng Thiện Đ, sinh ngày 25/4/2021 cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh C không yêu cầu chị N1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Chị N1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Tạm giao cháu Tăng Thiện Đ, sinh ngày 25/4/2021 cho bà Nguyễn Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong thời gian anh C không có mặt tại Việt
6
Nam. Chấp nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị N về việc không yêu cầu anh Tăng Xuân C và chị Trần Thị N1 cấp dưỡng tiền nuôi cháu Đ trong thời gian anh C không có mặt tại Việt Nam.
3. Về án phí: Buộc anh Tăng Xuân C phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh C đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003219 ngày 08/10/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 - Hải Phòng. Anh C đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Anh Tăng Xuân C, chị Trần Thị N1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Bà Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận: - VKSND khu vực 8 - Hải Phòng; - Phòng THADS khu vực 8 - Hải Phòng; - Các đương sự; - UBND phường Thạch Khôi, Hải Phòng (ĐKKH ngày 21/11/2019); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu |
7
Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 26/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Tăng Xuân Chiến và chị Trần Thị Nga ly hôn
