|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19/6/2025 Về việc ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN- TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
* Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân
* Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thanh Vân
2. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai
* Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Thị Ngọc Huyền - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên: Bà Hoàng Thị Lệ Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 19/6/2025, tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 179/2025/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐXX- ST ngày 29/5/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lương Thị A, sinh năm 1990. Có mặt
HKTT: Tổ 6, phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ở: Xóm Đồi Chè, xã Phúc Trìu, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
* Bị đơn: Anh Phạm Trung N, sinh năm 1989. Có đơn xin xét xử vắng mặt
Nơi cư trú: Tổ F, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn, các bản khai và tại phiên tòa chị Lương Thị A trình bày: Chị và anh Phạm Trung N kết hôn năm 2017 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường G, thành phố T. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ chồng tại tổ F, phường G, thành phố T, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Nhưng đến năm 2023, thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh N không tu chí làm ăn, vợ chồng không có tiếng nói chung, không có sự quan tâm, chia sẻ với nhau dẫn đến ly thân từ tháng 6/2023 đến nay. Chị A xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh N, mâu thuẫn gia đình đã ở mức trầm trọng nên đề nghị Toà án giải quyết cho được ly hôn.
Về con chung: Chị A khai vợ chồng có 01 con chung là Phạm Anh T, sinh ngày 21/02/2018. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung là cháu T cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác, chị không đề nghị anh N cấp dưỡng nuôi con. Về điều kiện nuôi con, hiện nay chị đang làm kế toán tại Công ty TNHH D, thu nhập từ 9-12 triệu đồng/ tháng, hai mẹ con đang sống cùng bố mẹ đẻ của chị tại xã P, thành phố T, cháu T cũng đang theo học gần nhà. Vì vậy, chị đủ điều kiện chăm sóc cháu T.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không đề nghị giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Trung N tại Bản tự khai ngày 27/4/2025 trình bày: Anh và chị Lương Thị A kết hôn năm 2017 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường G, thành phố T. Anh chị có 01 con chung là Phạm Anh T. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do không hợp nhau. Anh đồng ý ly hôn với chị Lương Thị A và có nguyện vọng nuôi con chung. Tài sản chung, công nợ chung: Không có.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành triệu tập, hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên hòa giải và có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, vụ án phải được đưa ra xét xử ngày hôm nay.
Trong phần tranh tụng, chị A giữ nguyên quan điểm khởi kiện là đề nghị được ly hôn với anh N. Về con chung: Chị có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung là Phạm Anh T, sinh ngày 21/02/2018 và không đề nghị anh N cấp dưỡng. Tài sản chung, công nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 21; Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền của mình theo Điều 48 BLTTDS; Tuân thủ quy định về trình tự, tố tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của BLTTDS. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lương Thị A, cho chị A được ly hôn với anh Phạm Trung N. Về con chung: Giao con chung Phạm Anh T, sinh ngày 21/02/2018 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Không giải quyết vấn đề cấp dưỡng do các bên không yêu cầu. Tài sản chung, công nợ chung không có. Buộc chị A nộp án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ Điều 28; Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên là đúng quy định. Anh N có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227 BLTTDS, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn. Các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án đều đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lương Thị A và anh Phạm Trung N là hợp pháp. Quá trình chung sống chị A và anh N phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh chị ly thân từ tháng 6/2023 đến nay. Chị A xác định không còn tình cảm với anh N mâu thuẫn vợ chồng đã ở mức trầm trọng và đề nghị được ly hôn. Bị đơn, anh N trong Bản tự khai đồng ý ly hôn với chị A và xin vắng mặt tại các phiên tòa. Như vậy, có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị A và anh N đã ở mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị A đề nghị ly hôn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên chấp nhận.
Về con chung: Chị Lương Thị A và anh Phạm Trung N có 01 con chung là cháu Phạm Anh T, sinh ngày 21/02/2018. Hội đồng xét xử thấy, chị A, anh N đều có nguyện vọng nuôi cháu T. Về điều kiện nuôi con, hiện nay chị A đang ký hợp đồng làm kế toán tại Công ty TNHH D, thu nhập từ 9-12 triệu đồng/ tháng, chị và cháu T đang sống cùng bố mẹ đẻ của chị A tại xã P, thành phố T, cháu T cũng đang theo học gần nhà. Anh N có nguyện vọng nuôi con chung nhưng không cung cấp tài liệu chứng minh điều kiện nuôi con. Cháu T trong Bản tự khai ngày 15/5/2025 trình bày có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định và phát triển tốt nhất cho con trẻ, giao cháu T cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Việc cấp dưỡng nuôi con Tòa án không giải quyết do nguyên đơn không yêu cầu.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không giải quyết.
Về án phí: Chị A phải nộp án dân sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án là có căn cứ chấp nhận. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227 BLTTDS năm 2015. Áp dụng Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Luật Phí và lệ phí năm 2016; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lương Thị A. Cho chị Lương Thị A được ly hôn với anh Phạm Trung N.
Về con chung: Giao con chung là Phạm Anh T, sinh ngày 21/02/2018 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh N được quyền đi lại thăm nom con chung.
Việc cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do nguyên đơn không yêu cầu.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí: Chị Lương Thị A phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0000894 ngày 03/4/2025 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tứ Xuân |
Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa chị Lương thị A và anh Phạm Trung N
