|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19/6/2025
“V/v ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Văn Bảnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thanh Tuyền
Ông Nguyễn Tấn Để
Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 về "ly hôn, nuôi con chung".
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị K, sinh năm 1988
Địa chỉ: ấp Th, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Anh Đoàn Khánh Đ, sinh năm 1991
Địa chỉ: ấp T1, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trương Thị K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đoàn Khánh Đ tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2014. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị không hòa hợp nhau, suy nghĩ khác nhau và thường hay cự cãi. Vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, anh chị đã cho nhau nhiều cơ hội hàn gắn nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2022, không còn quan tâm gì với nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục sống chung nên chị xin ly hôn với anh Đ để mỗi người có cuộc sống riêng.
Về con chung: Chị và anh Đ có 02 người con chung là Đoàn Tuấn H, sinh ngày 04/10/2007 và Đoàn Tuấn T, sinh ngày 04/10/2007 đang sống với anh Đ và có nguyện vọng sống với anh Đ. Khi ly hôn, chị đồng ý để con cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về nợ chung: Chị và anh Đ không có nợ chung ai, không phát sinh tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Chị cam kết ly hôn không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người khác.
Về tài sản chung: Không phát sinh tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
* Bị đơn anh Đoàn Khánh Đ vắng mặt, không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh có ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, riêng bị đơn anh Đ vắng mặt tại phiên họp và phiên tòa lần thứ 2 mà không có lý do là chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị K được ly hôn với anh Đ; giao con chung cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Đ vắng mặt, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng anh Đ vắng mặt lần thứ hai không có lý do là chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị K có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị K, anh Đ.
[2] Về quan hệ hôn nhân, chị K và anh Đ chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2014 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Nguyên nhân dẫn đến ly hôn, chị K cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không hòa hợp nhau về suy nghĩ, tính cách, thường hay cãi nhau. Vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, anh chị đã cho nhau nhiều cơ hội hàn gắn nhưng không có kết quả, anh chị đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, anh chị không thể cùng nhau xây dựng gia đình. Còn anh Đ vắng mặt, không có ý kiến, không tham gia các phiên họp và phiên tòa sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình chung sống với nhau chị K và anh Đ có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, nhưng không khắc phục được.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị K và anh Đ không đảm bảo theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng, Hội đồng xét xử có căn cứ để cho rằng hôn nhân giữa anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, anh chị đã sống ly thân thời gian dài nhưng không khắc phục được mâu thuẫn để vợ chồng tiếp tục chung sống nên không có khả năng đoàn tụ. Do đó, trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị K với anh Đ.
[4] Về con chung: Anh chị có 02 người con chung là Đoàn Tuấn H, sinh ngày 04/10/2007 và Đoàn Tuấn T, sinh ngày 04/10/2007 đang sống với anh Đ và có nguyện vọng sống với anh Đ. Khi ly hôn, chị K đồng ý để con cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, anh Đ có đủ điều kiện nuôi con, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của con nên Hội đồng xét xử chấp nhận để anh Đ được tiếp tục nuôi dưỡng con. Chị K có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở. Trường hợp anh Đ vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì chị K có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về cấp dưỡng, không ai yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[5] Về nợ chung: Chị K xác định anh chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
[6] Về tài sản chung: Chị K xác định anh chị không phát sinh tranh chấp, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí, nguyên đơn chị K phải chịu án phí ly hôn theo quy định là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 9, Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Trương Thị K được ly hôn với anh Đoàn Khánh Đ.
- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Đoàn Tuấn H, sinh ngày 04/10/2007 và Đoàn Tuấn T, sinh ngày 04/10/2007 cho anh Đ được trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị K có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở. Trường hợp anh Đ vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì chị K có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về cấp dưỡng, không ai yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
- Về nợ chung: Chị K xác định anh chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Không phát sinh tranh chấp, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Chị K phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo lai thu số 0005378 ngày 05/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Văn Bảnh |
Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trương Thị K ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Đoàn Khánh Đ
