TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18/11/2025
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LĂK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Tự
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Công Hạnh và ông Huỳnh Khắc Hiếu
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 211/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Ngọc T, sinh năm 1991
Địa chỉ: Khu phố P, phường T, tỉnh Đắk Lắk
Có mặt.
- Bị đơn: Bà Bùi Ngọc Quỳnh T1, sinh năm 1999
Địa chỉ: Khu phố N, phường B, tỉnh Đắk Lắk
Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đỗ Ngọc T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Ngọc T và bà Bùi Ngọc Quỳnh T1 kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường I, thành phố T (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) ngày 02/8/2024. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường được vài tháng thì giữa bà T1 và người thân trong họ hàng phía ông T phát sinh những mâu thuẫn. Bà T1 bỏ về nhà cha mẹ đẻ ở từ tháng 5/2025 đến nay. Ông T có gọi điện thoại nhưng bà T1 không nghe máy, vợ chồng từ đó sống ly thân và không còn liên lạc với nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông T xin ly hôn bà T1.
- Về con chung: Không có
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Bùi Ngọc Quỳnh T1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Ngọc Quỳnh T1 và ông Đỗ Ngọc T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường I, thành phố T (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) ngày 02/8/2024. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì xảy ra mâu thuẫn giữa bà T1 và người lớn trong họ hàng phía ông T. Vì ông T là chồng nhưng không lên tiếng bảo vệ vợ nên bà Thương cảm T2 tủi thân và đã bỏ về nhà cha mẹ đẻ ở từ tháng 5/2025, vợ chồng sống ly thân đến nay. Nay ông T xin ly hôn thì bà T1 không đồng ý vì bà T1 vẫn còn tình cảm với ông T, mong muốn vợ chồng đoàn tụ để hàn gắn, xây dựng gia đình.
- Về con chung: Không có
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có
Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên ý kiến đã trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có đăng ký thường trú tại phường B nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk thụ lý thuộc thẩm quyền.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường I, thành phố T (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk) theo giấy chứng nhận kết hôn số: 71/2024 ngày đăng ký 02/8/2024 nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống phát sinh những mâu thuẫn với người thân trong gia đình dẫn đến việc bà T1 bỏ về nhà cha mẹ đẻ ở từ tháng 5/2025, vợ chồng đã không còn sống chung và liên lạc với nhau từ đó đến nay. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ông T được ly hôn bà T1.
[2.2] Về con chung: Không có
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không có
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí về yêu cầu xin ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 51, 56, 58 Luật hôn nhân gia đình 2014.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Ngọc T tại đơn khởi kiện ngày 15/10/2025.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Ngọc T được ly hôn với bà Bùi Ngọc Quỳnh T1.
- Về con chung: Không có
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xét.
- Về án phí: Căn cứ Điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, ông Đỗ Ngọc T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003306 ngày 24/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Lương Công Hạnh Huỳnh Khắc H
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Công Tự
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Đắk Lắk;
- - VKSND KV 11 - Đắk Lắk;
- - Cục THADS Đắk Lắk;
- - UBND P. Tuy Hòa;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ;
- - Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Võ Công Tự
Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA_Đỗ Ngọc T
