TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2025/HNGĐ - ST Ngày: 17/6/2025. V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Quy
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Lâm Thái Hiệp
- 2. Ông Danh On
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhã Trúc - Thư ký Toà án nhân dân Huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân Huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 110/2025/TLST–HNGĐ, ngày 21 tháng 4 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXX-ST ngày 20 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
2. Bị đơn: Anh Phan Hồng T, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
(Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 4 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày:
Chị Phạm Thị N và anh Phan Hồng T có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện vào năm 2003 nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng chị N có 02 người con chung tên Phan Trúc H, sinh ngày 15/01/2004 và Phan Trọng T1, sinh ngày 21/3/2012 hiện đang sống cùng với anh T. Sau khi kết hôn vợ chồng chị N chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên hay cải nhau và đã ly thân cách nay khoảng 05 tháng nhưng vẫn không hàn gắn tình cảm lại được. Vì vây, chị N yêu cầu được ly hôn với chồng tôi là anh Phan Hồng T.
Về con chung: Khi ly hôn đối với cháu H đã trưởng thành và có khả năng tự lạo động nuôi sống bản thân nên chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền nuôi cháu H. Đối với cháu T1 thì tùy quyết định của cháu muốn được chung sống cùng với cha hay mẹ thì chị N đều đồng ý. Người không trực tiếp nuôi con không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định vợ chồng chị có tài sản chung, không có nợ chung, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết mà chị sẽ tự thỏa thuận giải quyết. Ngoài ra, chị N không còn yêu cầu nào khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phan Hồng T trình bày:
Anh T thống nhất với lời trình bày của chị N về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung. Về hôn nhân hai người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn, thời gian gần đây do mâu thuẫn nên anh chị đã ly thân khoảng 05 tháng nay nhưng vẫn không hàn gắn tình cảm lại được. Về tài sản chung vợ chồng anh T có tài sản chung, không có nợ chung. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị N, anh T có ý kiến như sau:
Về hôn nhân: Anh T đồng ý ly hôn với chị N.
Về con chung: Có 02 người con, cháu Phan Trúc H đã trưởng thành và đủ khả năng tự nuôi sống bản thân nên anh T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về quyền nuôi cháu H.
Đối với cháu Phan Trọng T1 chưa đến tuổi trưởng thành, từ nhỏ cháu ở chung nhà với anh T và ông bà nội của cháu. Anh T tôn trọng quyền quyết định của cháu T1, cháu muốn sống cùng với cha hay với mẹ anh T đều đồng ý và người không trực tiếp nuôi con không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng anh T có tài sản chung, không có nợ chung. Khi ly hôn anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh T không có yêu câu gì.
Ý kiến của cháu Phan Trọng T1 như sau:
Cháu Phan Trọng T1 có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng với cha và ông bà nội cháu.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát được tóm tắt như sau:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
Về nội dung giải quyết vụ án: Sau khi phân tích yêu cầu khởi kiện, những quy định của pháp luật, đề nghị: Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phạm Thị N và anh Phan Hồng T. Về con chung giao cháu Phan Trọng T1, sinh ngày 21/3/2012 cho anh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản: Không xem xét giải quyết. Ngoài ra, đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Phạm Thị N và anh Phan Hồng T chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn nhưng chị N xin ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 7 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn là đúng quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Phan Hồng T có nơi đăng ký thường trú tại ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân Huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[3] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Về yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị Phạm Thị N và anh Phan Hồng T, tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003 đến nay vẫn không đăng ký kết hôn dù hai người có đủ điều kiện kết hôn. Nay phát sinh mâu thuẫn, chị N yêu cầu ly hôn và anh T đồng ý nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phạm Thị N và anh Phan Hồng T.
[5] Về con chung: Chị N và anh T xác định hai người có 01 con chung tên Phan Trọng T1, sinh ngày 21/3/2012; khi ly hôn chị N và anh T thống nhất tôn trọng nguyện vọng của cháu T1 muốn sống cùng với cha hay mẹ thì anh chị đều đồng ý và người không trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 không phải cấp dưỡng nuôi cháu. Ý kiến của cháu T1 là muốn được tiếp tục chung sống cùng với cha và ông bà nội cháu. Do đó, để tránh xáo trộn cuộc sống của cháu T1 cũng như nguyện vọng của cháu, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu T1 cho anh T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản và được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.
[6] Về quan hệ tài sản chung: Tài sản chung và nợ chung chị N và anh T thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng điểm a khoản 5 ĐIều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
[8] Phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 9, khoản 1 Điều 14, 15, 53, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phạm Thị N với anh Phan Hồng T.
- Về con chung: Giao cháu Phan Trọng T1, sinh ngày 21/3/2012 cho anh Phan Hồng T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Phạm Thị N không phải cấp dưỡng và được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản, được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị N và anh Phan Hồng T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Phạm Thị N có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Buộc chị Phạm Thị N nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị N đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004263 ngày 21/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay được chuyển thu án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Văn Quy |
Bản án số 54/2025/HNGĐ - ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 54/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn nuôi con
